CÁN BỘ, NHÂN DÂN THỦ ĐÔ TÍCH CỰC THAM GIA THỰC HIỆN " NÂNG CAO HIỆU LỰC, HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ" VÀ " NÂNG CAO NĂNG LỰC HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG MẶT TRẬN THÀNH PHỐ HÀ NỘI"
GĐ 1975-1985: MTTQ thành phố Hà Nội trong thời kỳ cả nước bước vào chặng đầu thời kỳ đi lên CNXH
Hà Nội, 12/05/2010
Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc toàn thắng, cả nước cùng bước vào thực hiện cách mạng xã hội chủ nghĩa. Thủ đô Hà Nội có nhiệm vụ cơ bản là đẩy mạnh cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa trên các lĩnh vực quan hệ sản xuất, khoa học và kỹ thuật, tư tưởng và văn hoá trong đó then chốt là nội dung khoa học và kỹ thuật; đẩy mạnh cao trào cách mạng của quần chúng nhằm phát triển kinh tế, văn hoá, từng bước nâng cao đời sống nhân dân, giữ vững an ninh chính trị, trật tự xã hội, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng Hà Nội thành Thủ đô hiện đại, văn minh và giàu đẹp xứng đáng với dân tộc và đất nước.

Nhân dân Hà Nội thực hiện nhiệm vụ trên không được bao lâu thì sự đe doạ đất nước bị xâm lăng từ bên ngoài ngày càng tăng và tiếp ngay cuộc chiến tranh xâm lược của các thế lực bên ngoài ở tây nam Tổ quốc là cuộc  chiến tranh đó ở biên giới phía bắc vào đầu năm 1979. Nhân dân Hà Nội thiếp tục nhiệm vụ trên trong điều kiện phải cùng cả nước chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và sẵn sàng làm thát bại tất cả những quy mô lớn. Như vậy nhiệm vụ của nhân dân Hà Nội đã nặng nề lại càng nặng nề khó khăn hơn.

Để góp phần hoàn thành nhiệm vụ chung của Thủ đô trong thời kỳ mới, nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Thành phố cũng rất nặng nề và luôn luôn được bổ sung cho phù hợp với thực tế đòi hỏi.  Bước vào thời kỳ mới Mặt trận đã xác định được các nhiệm vụ của mình như tuyên truyền giáo dục làm cho nhân dân Thủ đô nhận rõ cách mạng Việt Nam đã chuyển sang giai đoạn mới, Thủ đô cùng với cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội; cần phát huy quyền làm chủ  tập thể của nhân dân lao động Thủ đô, động viên mọi người tích cực tham gia quản lý đất nứơc, quản lý xã hội; động viên các tầng lớp nhân dân Thủ đô đẩy mạnh phong trào đồng khởi thi đua lao động, sản xuất, công tác, học tập, cần kiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội; nhằm hoàn thành thắng lợi kế hoạch nhà nước, ra sức củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. Tích cực tham gia xây dựng nền văn hoá mới và xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa ở Thủ đô. Tham gia chăm sóc đời sống  vật chất và văn hoá toàn dân. Tích cực tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự xã hội. Tham gia tích cực đấu tranh chống các tiêu cực xã hội. Đoàn kết rộng rãi các lực lượng yêu nước và yêu chủ nghĩa xã hội, tăng cường đoàn kết quốc tế. Tăng cường củng cố, mở rộng tổ chức Mặt trận, xây dựng và đẩy mạnh hoạt động của tổ chức Mặt trận cơ sở (tiểu khu, xã), không ngừng cải tiến nội dung và phương thức cộng tác Mặt trận cho thiết thực, sinh động.

Sau hai thập kỷ thực hiện cách mạng xã hội chủ nghĩa, cơ cấu xã hội ở Thủ đô đã có nhiều biến đổi. Đến khi đất nước thống nhất, Mặt trận Tổ quốc Thành phố đã trở thành Mặt trận của những người lao động chân tay và trí óc, những người yêu nước và chủ nghĩa xã hội. Trước biến đổi đó công tác Mặt trận cũng cần đổi mới cho phù hợp, trước tiên là cơ quan tham mưu cho Thành uỷ phải được kiện toàn. Ngày 16-7-1977 Thành uỷ đã ra Nghị quyết thành lập Ban Dân vận và Mặt trận Hà Nội thay cho Ban Mặt trận trước đó. Để phù hợp với thực tiễn hơn , ngày 26-8-1981 Thường vụ Thành uỷ đã quyết định giải thể Ban Dân vận và Mặt trận Hà Nội và thành lập Ban Dân vậ và Đảng đoàn Mặt trận Hà Nội. Các cơ quan này đã từng bước hoàn thành chức năng tham mưu cho Thành uỷ lãnh đạo công tác Dân vận và Mặt trận khi Thủ đô cùng cả nước thực hành các mạng xã hội chủ nghĩa.

Thành uỷ lãnh đạo tiến hành thành công các Đại hội lần thứ VIII (6-1977) lần thứ IX (5-1980) và lần thứ X (12-1983) của Mặt trận Tổ quốc Thành phố. Các Đại hội này đã đánh dấu những bước tiến trong lãnh đạo của Đảng bộ với công tác Mặt trận cũng như xã định cống hiến to lớn của Mặt trận Tổ quốc Thành phố trong thời kỳ này.

Cách mạng xã hội chủ nghĩa càng phát triển thì vai trò tập hợp lực lượng ở cơ sơ càng quan trọng. Tổ chức Mặt trận cơ sở ra đời là một yêu cầu khách quan. Ngay từ tháng 8-1972, Thường vụ Thành uỷ đã quyết định xây dựng thí điểm Mặt trận cơ sở (khối phố) và đã thu được kết quả tốt. Từ sau Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thống nhất lần thứ nhất (9-1977) cả nước đi vào xây dựng Mặt trận cơ sở, từ đó Thành uỷ Hà Nội càng đẩy mạnh công tác này trên cơ sở kinh nghiệm của chính Thủ đô đã làm từ trước đó 5 năm. Đến cuối năm 1977 hầu hết các xã ở ngoại thành và nhiều tiểu khu ở nội thành (63/1979) đã tổ chức Mặt trận. Các tổ chức Mặt trận lúc đầu là Ban liên lạc Mặt trận sau được đổi thành Ban Mặt trận. Từ khi có tổ chức Mặt trận ở cơ sở, các Đảng uỷ và cơ sở đã thông qua Ban Mặt trận làm tốt việc tăng cường đoàn kết các tầng lớp nhân dân ở địa phương. Tổ chức Mặt trận cơ sở đã giúp Mặt trận khu (quận), huyện phản ánh kịp thời những suy nghĩ và ý kiến của các tầng lớp nhân dân tới lãnh đạo các cấp, giúp thành phố có chủ trương kịp thời sát hợp. Lãnh đạo xây dựng và phát huy vai trò tổ chức Mặt trận ở cơ sở là nét nổi bật của công tác Mặt trận thời kỳ này ở Thủ đô.

Thời kỳ từ 1975 đến 1986 có nhiều khó khăn phức tạp trên các lĩnh vực sản xuất, đời sống, an ninh quốc phòng, xã hội mà thành phố phải giải quyết. Mặt trận Tổ quốc Thành phố đã góp phần quan trọng vào việc giải quyết những khó khăn phức tạp trên, hoàn thành những nhiệm vụ chung của Thành phố.

Ngay sau 30-4-1975, Mặt trận Tổ quốc Thành phố đã động viên được toàn dân tham gia phong trào lao động sản xuất, cần kiệm xây dựng Thủ đô, động viên các lực lượng lao động thi đua phát huy sáng kiến, hợp lý hoá sản xuất, tăng năng suất lao động, tăng chất lượng sản phẩm. Lao động ngoại thành được động viên đi xây dựng vùng kinh tế mới ở Lâm Đồng bước đầu đạt kết quả tốt. Mặt trận đã tổ chức phổ biến rộng rãi, đồng thời hướng dẫn kiểm tra đôn đốc thực hiện chỉ thị của Đảng và Chính phủ về việc xây dựng nếp sống văn minh trong lễ cưới, lễ tang, ngày giỗ, ngày hội và loại trừ mê tín trong nhân dân. Cuộc vận động này được tiến hành liên tục và thu nhiều kết quả tốt phát huy được truyền thống tốt đẹp của dân tộc và xây dựng được nội dung mới trong đời sống văn hoá của nhân dân Thủ đô. Mặt trận Tổ quốc Thành phố đã đóng vai trò chủ chốt động viên tổ chức các tầng lớp nhân dân phát huy quyền làm chủ tạp thể, thực hiện các phong trào cách mạng của Thủ đô; phong trào lao động sản xuất và tiết kiệm; phong trào củng cố quốc phòng, boả vệ an ninh Tổ quốc; phong trào lao động cộng sản chủ nghĩa xây dựng Thủ đô; phong trào thực hiện nếp sống văn minh, xây dựng gia đình văn hoá mới. Khi mới giải phóng miền Nam, Mặt trận Tổ quốc Thủ đô đã góp phần tích cực vào việc thực hiện thống nhất nước nhà về mặt Nhà nước. Mặt trận đã thay mặt nhân dân Thủ đô ký giao ước và tổ chức thực hiện thi đua giữa ba thành phố : Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Hải phòng. Trong các hoạt động của thành phố về giáo dục chính trị tư tưởng cho nhân dân; xây dựng và cungr cố chính quyền, tham gia xây dựng Đảng; hoạt động đoàn kết quốc tế…Mặt trận đã đóng góp xứng đáng vào sự thành công của các hoạt động đó.

Vào thời kỳ này đối với những nhà tư sản sau gần 20 năm thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa, vấn đề nổi lên là chế độ với họ khi về nghỉ già như thế nào. Ngày 22-8-1975, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Thông tư 287/TTg bổ sung chính sách, chế độ đối với người tư sản dân tộc tiếp thu cải tạo xã hội chủ nghĩa. Nội dung chính của Thông tư này nêu rõ kể từ ngày ban hành thông tư này, người tư sản nào không còn lĩnh tiền định tức nữa (do tự nguyện không lĩnh, thôi lĩnh vốn hợp doanh) đã được nghỉ hoặc sẽ được nghỉ, có đủ thời gian công tác thì được hưởng các quyền lợi và chế độ đãi ngộ quy định cho cán bộ công nhân viên chức trong biên chế Nhà nước. Nội dung này làm cho giới tư sản Hà Nội rất phấn khởi, họ cho là Đảng rất sáng suốt, rất nhân đạo, đã đánh giá đúng nỗ lực cải tạo , đóng góp của họ mấy chục năm qua, chỉ có Đảng mới cải tạo được cả một giai cấp bóc lột thành người lao động thực sự. Họ trông ngóng từng ngày việc thi hành Thông tư 287/TTg với niềm hân hoan vô hạn chẳng những vì quyền lợi kinh tế mà chính là vì quyền lợi chính trị cho họ và con cái họ mai sau.

Nhưng mãi 15 năm sau, ngày 27-11-1976, Bộ Thương binh xã hộ mới có Thông tư số 17/TBXH hướng dẫn thi hành Thông tư 287/TTg trong có nêu ngừoi tư sản nào về nghỉ hưu trước 22-8-1975 mà còn lĩnh tức(chiếm đa số với  tư sản Hà Nội0 thì không được hưởng chế độ đãi ngộ như cán bộ công nhân viên chức; nhưng ai còn làm việc mà còn lĩnh tức thì khi nào hết định tức vẫn được hưởng mọi chế độ. Như vậy Thông tư 17/TBXH hướng dẫn thi hành Thông tư 287/TTg nhưng có điểm không đúng với tinh thần thông tư đó. Do vậy tâm trạng chung của Tư sản Hà Nội khi biết Thông tư 17/TBXH thì buồn tủi, nguyện vọng của họ là muốn kêu với Trung ương Đảng và Chính phủ  xem lại vấn đề này của họ.

Trên cơ sở nghiên cứu kỹ thông thư 287/TTg và Thông tư 17/TBXH, năm vững được nguyện vọng và tâm tư của giới tư sản Hà Nội lúc này, Mặt trận đã kịp thời phản ánh qua Ban Mặt trận lên Thành uỷ và Trung ương xem xét thêm hai thông tư trên cũng như mong đợi của giới thư sản. Trong lúc chờ đợi giải quyết vấn đề trê, đề nghị với thành phố giải quyết đối với một số tư sản có công với cách mạng, gia đình liệt sĩ, có đông con đi bộ đội chiến đấu tốt, một số nhân sĩ tiêu biểu đã về nghỉ và 5 người về nghỉ sau ngày ban hành Thông tư 287/TTg được hưởng chế độ như cán bộ công nhân viên nói chung. Đề nghị này được Thành phố nghiên cứu, phản ánh với Trung ương và đã được giải quyết thoả đáng, động viên kịp thời giới tư sản, củng cố khối đoàn kết toàn dân Thủ đô.

Khi mới giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, trí thức Thủ đô phấn khởi trước sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đã thắng lợi trọn vẹn, và hy vọng một thời kỳ mới, phát triển toàn diện của đất nước sẽ mở ra. Sự phấn khởi và niềm hy vọng đó của trí thức Thủ đô là chính đáng và có hiện thực. Trí thức Hà Nội đã hồ hởi lao vào thời kỳ lao động mới hy vọng làm giàu cho đất nước, cho Thủ đô và bản thân mình sẽ được sống sung sướng, có điều kiện đầy đủ hơn để làm việc. Song trí thức Thủ đô, kể cả một số nhà lãnh đạo không lường trước được những khó khăn mà đất nước sau ngày toàn thắng sẽ gặp phải, đế quốc bao vây cấm vận, phản động quốc tế thực hiện chiến tranh xâm lấn, viện trợ quốc tế bị cắt giảm… Đến cuối những năm 70 đầu những năm 80, đất nước lâm vào khó khăn đó, nhiều người đã có những đóng góp lớn cùng thành phố tháo gỡ những khó khăn, nhiều người chờ đợi. Lúc này trong đội ngũ trí thức cũ tương đối ổn định, trí thức mới được đào tạo  trong những năm Thủ đô thực hiện cách mạng xã hội chủ nghĩa diễn biến phức tạp hơn, họ cho rằng đường lối , chính sách của ta sai nhiều, quản lý kinh tế lạc hậu trì trệ đòi hỏi phải cải tiến mạnh về quản lý kinh tế hoặc phải có một cuộc cách mạng về tổ chức hoặc ở cấu, kêu ca điều kiện nghiên cứu giảng dạy quá khó khăn, thậm chí có người còn đã bỏ trốn ra nước ngoài không phải chỉ vì đời sống họ khó khăn.

Trước tình hình đó Mặt trận càng tăng cường các biện pháp vận động đôgn đảo trí thức, giúp thành phố thực hiện chính sách sử dụng, đãi ngộ, bồi dưỡng trí thức, giúp anh chị em trí thức khắc phụ một số khó khăn về đời sốgn đẻ tiếp tục làm viêc, cống hiến cho Thủ đô. Trên có sở hiểu rõ trí thức là vốn quý của Đảng và nhân dân, ngày nay họ đã trở thành một động lực cách mạng, một đội quân chủ lực, đi hàng đầu trong cuộc tiến quân vào khoa học kỹ thuật cùng với công nhân và nông dân tham gia trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội, Mặt trận đã góp phần giúp thành phố thực hiện Chỉ thị 66 của Ban Bí thư trung ương, công bố chính sách khoa học kỹ thuật của Bộ Chính trị, các quyết định khen thưởng đối với trí thức, văn nghệ sĩ. việc thực hiện các chủ trương, chính sách này cùng những chuyển biến về kinh tế và đời sống sau chính sách khoán của của Đảng và Chính phủ đã có tác dụng động viên tầng lớp trí thức yêu nước, tự hào dân tộc, chịu đựng khó khăn, xác định được chỗ đứng, nỗ lực nghiên cứu, phát minh, mong muốn góp phần thiết thực vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của Thủ đô và đất nước.

Tuy vậy việc thực hành chính sách đối với trí thức lúc này còn nhiều tồn tại, tư tưởng thành kiến, hẹp hòi, coi thường trí thức còn khá nặng làm họ thiếu an tâm, phấn khởi, thậm chí một bộ phận bi quan thất vọng, thiếu niềm tin. Những tồn tại đó, Mặt trận phải góp phần giải quyết trong quá trình thực hiện công tác trí thức vận của mình.

Thời kỳ từ 1975 đến 1986, các tôn giáo ở Thủ đô có nhiều biến đổi đòi hỏi công tác tôn giáo vận của thành phố nói chung, của Mặt trận nói riêng phải có những nỗ lực mới.

Giáo hội chủ động tích cực để tạo điều kiện phục hồi và củng cố các cơ sở của họ, có gắng trở lại không khí sầm uất của xứ đạo, họ đạo, tăng cường hoạt động tôn giáo, trang trí lại nhà thờ, cải tiến lễ nghi với hình thức hấp dẫn, tổ chức kỷ niệm 100 năm ngày thành lập toà giám mục Bắc Ninh, lễ cưới vàng cưới bạc của hàng giáo si, củng cố và khôi phục Hội đoàn.

Về đạo Phật, chi hội Phật giáo Hà Nội vẫn tiến théo hướng là một tổ chức tôn giáo yêu nước, đi với chủ nghĩa xã hội. Tăng ni phật tử rất phấn khởi trước sự thành công của Hội nghị đại biểu Phật giáo cả nước thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam, họ tự hào về vị trí của Phật giáo Thủ đô. Các tăng ni lo cho tương lai của đạo Phật ít người kế tục. Lúc này nhiều địa phương vẫn chưa trả hoa lợi ruộng đất cho nhà chùa. Một số nơi dân lấn chiếm đất hoặc nhà phụ của chùa nhưng chính quyền lờ đi không giải quyết. Trật tự an ninh ở nhiều chùa chưa được đảm bảo.

Đạo Tin lành thời kỳ này vẫn đi theo hướng tích cực. Các đầu đạo cũng ra sức tuyên truyền đạo, tuy kết quả ít. Hội đồng nhà thờ thế giới viện trợ cho Hội Thánh Tin lành Việt Nam một số tiền lớn để sửa chữa cơ sở tôn giáo Tin lành  ở Hà Nội và một số tỉnh phía Bắc. Tín đồ Tin lành Thủ đô muốn Hà Nội thành trung tâm của Tin lành cả nước.

Đạo Cao đài nhình chung vẫn tiếp tục chuyển biến theo hướng tốt. Họ muốn sáp nhập hai phái Bến tre và Tây Ninh. Số tín đồ lễ bái thường xuyên chỉ trên dưới 20 người, ngày lễ trọng đại nhất “Vía Ngọc Hoàng” cũng chỉ trên dưới 60 người.

Vào thời kỳ này Mặt trận vẫn chủ động thực hiện công tác tôn giáo vận theo chức năng của mình, tham gia giáo dục động viên giáo dân chấp hành các chính sách của Đảng và Nhà nước và nhiệm vụ của Thành phố, giúp thành phố triển khai Nghị quyết 40 của Ban Bí thư Trung ương và Chỉ thị 19 của Thành uỷ về công tác tôn giáo. Nhìn chung công tác tôn giáo vận ở Hà Nội thời kỳ này có những chuyển biến tốt.

Phong trào quần chúng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở vùng Thiên chúa giáo có nhiều tiến bộ, hoà mình trong cộng đồng chung của dân tộc, thực hiện các chủ trương chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước. Quần chúng giáo dân hết sức phấn khởi hưởng ứng chính sách khoán quản với khi thế lao động sản xuất tích cực, nhiều nơi thu vượt mức khoán. Mặt trận nhiều địa phương đã tham gia tích cực vào công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục, giác ngộ quần chúng giáo dân và những chức sắc; đã quan tâm giúp đỡ cac gia đình đảng viên, cốt cán, và giáo dân có khó khăn.

Đồng bào theo đạo Phật cũng có nhiều chuyển biến tốt, phong trào phụng đạo yêu nước trong Phật giáo phát triển theo hướng tiến bộ, có lợi cho quần chúng. Tăng ni chấp hành tốt và đã tham gia vận động các tín đồ chấp hành tốt cac chính sách, pháp luật của Nhà nước, bài trừ mê tín dị đoan, tham gia gửi tiền tiết kiệm.

Trước sự giáo dục của Mặt trận, phong trào của các tín đồ Đạo Tin lành, Cao đài phát triển theo chiều hướng tốt. Mặt trận đã góp phần giúp đỡ đạo Cao đài thành một tổ chức “Cao đài thống nhất Thủ đô”.

Tồn tại trong công tác tôn giáo vận thời kỳ này là các cấp uỷ Đảng, chính quyền, đoàn thể, ban, ngành có liên quan chưa có nhận thức đúng đắn, sâu sắc về tầm quan trọng của côgn tác tôn giáo vân, nhất là đối với Thiên chúa giáo, chưa thấy được âm mưu của chủ nghĩa đế quốc và bọn phản động lợi dụng đạo chống phá cách mạng; chưa nghiêm chỉnh thực hiện Nghị quyết 40 của Ban Bí thư Trung ương và Chỉ thi 19 của Thường vụ Thành uỷ, nhiều cấp uỷ buông lỏng công tác lãnh đạo, khoán trắng cho Mặt trận, không kiểm tra đôn đốc, trên thực tế Mặt trận cũng không thể một mình hoàn thành được nhiệm vụ.

Thành phố thiếu hẳn một bộ phận chuyên trách công tác tôn giáo vận có hiệu lực. Từ thành phố đến cơ sở không có một đội ngũ cán bộ tôn giáo vận chuyên sâu.

Công tác Hoa vận ở Hà Nội từ 4-1975 đến cuối 1986 có nhiều biến động. Từ khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng đến đầu năm 1978, dưới sự lãnh đạo của Thành uỷ, Mặt trận Tổ quốc Thành phố, Mặt trận các khu phố cũng như Hội Hoa Liên hoạt động đều tập trung vào việc giáo dục thông qua tổ chức nói chuyện, họp mặt bà con người Hoa nhằm động viên bà con tích cực tham gia sản xuất, thực hiện nếp sống văn minh, thực hiện Chỉ thị 214 của Ban Bí thư Trung ương; theo dõi và tham gia tăng cường công tác bồi dưỡng lực lượng cốt cán trong người Hoa; quan tâm tới các cơ sở có đông người Hoa; thực hiện tốt chính sách Hoa vận; phối hợp với Sở giáo dục, Đảng uỷ khu phố Hoàn Kiếm đẩy mạnh cải cách giáo dục ở các trường Hoa vào quỹ đạo giáo dục chung, củng cố và tăng cường cốt cán ở các trường học, uốn nắn những lệch lạc của trường mẫu giáo Dục Hoa. hững công tác này đã đạt được nhiều kết quả khá.

Những năm 1976, 1977 quan hệ Việt – Trung ngày càng căng thẳng, bà con người Hoa có nhiều lo lắng băn khoăn sợ Việt Nam có phân biệt đối xử.

Tháng 4-1978, Thường vụ Thành uỷ Hà Nội ra Thông tri 33 hướng dẫn các cấp, các ngành, đoàn thể thi hành một số nhiệm vụ trước mắt nhằm ổn định tư tưởng bà con người Hoa, làm cho họ yên tâm ở lại Việt Nam. Các cấp, các sở đã triển khai công tác này, họp các cốt cán và động viên họ cùng tham gia tuyên truyền giải thích đường lối chính sách của Đảng với người Hoa và vận động họ ở lại Việt Nam. Bà con người Hoa hoan nghênh chủ trương và việc làm trên của thành phố.

Ngày 27-5-1978, người phát ngôn Bộ Ngoại giao nươc Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra Tuyên bố về chính sách đối với người Hoa ở Việt Nam. Ngày 31-5-1978 Hội nghị mở rộng của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Thành phố Hà Nội được triệu tập. Hộ nghị nhận định: hơn 20 năm được Đảng giáo dục, Nhà nước giúp đỡ, nhân dân Hà Nội người Việt cũng như người Hoa sống chan hoà gắn bó bên nhau, cùng nhau xây dựng Thủ đô. Hội nghị hoàn toàn nhất trí với tuyên bố ngày 27-5-1978 của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam. Hội nghị hoàn toàn nhất trí về những công việc cần tiếp tục tiến hành trong các chính Đảng, đoàn thể, tổ chức thành viên Mặt trận nhằm làm cho đảng viên, đoàn viên và hội viên người Việt cũng như người Hoa nhận rõ thêm tình tình, phân biệt đúng sai, ra sức giúp đỡ nhau ổn định cuộc sống yên lành, tăng cường đoàn kết thân ái. Hội nghị cũng kêu gọi bà con người Hoa hãy bình tĩnh hiểu rõ sự thật, đừng mắc mưu theo những luận điệu xuyên tạc, kích động chia rẽ của những phần tử xấu.

Ngày 3-6-1978, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Thành phố tổ chức Hội nghị đại biểu người Hoa ở Thủ đô nghiên cứu tuyên bố ngày 27-5-1978 của Việt Nam. Hội nghị đã đón tiếp 150 đại biểu các tầng lớp người Hoa về dự. Hội nghị đã nghe báo cáo và trao đổi sôi nổi, chân thành về tình hình người Hoa ở Hà Nội. Nhiều  đại biểu người Hoa đã phát biểu khẳng định chính sách đúng đắn, thuỷ chung của Đảng, Chính phủ, và Mặt trận Việt Nam đối với bà con người Hoa, nhiệt liệt hoan nghênh và ủng hộ lập trường đúng đắn của Chính phủ nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bày tỏ nguyện vọng góp sức làm cho đông đảo nhân dân quán triệt chính sách cảu Đảng, Chính phủ và Mặt trận, đoàn kết giúp đỡ bà con người Hoa tiếp tục làm ăn sinh sống trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, tố giác và không nghe bọn xấu lừa bịp, doạ nạt làm điều không tốt cho bản thân và gia đình.

Cũng trong tháng 7-1978, Thành uỷ mở liên tục ba lớp nghiên cứu tình hình và nhiệm vụ mới cho đảng viên người Hoa. Việc nghiên cứu va liên hệ của đảng viên người Hoa dự học tập ở ba lớp đều nói rõ kết quả khá tốt, hầu hết đảng viên nhập rõ được tình hình, phân biệt được đúng sai.

Ngày sau chiến tranh biên giới phía Bắc vừa nổ ra Mặt trận đã tổ chức nhiều buổi nói chuyện với bà con người Hoa ở các tiểu khu, ở các cơ quan xí nghiệp, hợp tác xã nhằm giải thích chủ trương chính sách của Đảng với bà con người Hoa trong tình hình mới, chỉ rõ âm mưu của phía Trung Quốc, vận động bà con người Hoa thực hiện kế hoạch bảo đảm an toàn tính mạng.

Qua đấu tranh kiên trì, liên tục của các cấp, các ngành và nhân dân toàn thành phố, sự rối loạn trong tình hình quần chúng người Hoa còn phức tạp, nhưng đã có chiều hướng ổn định dần, tư tưởng ra đi tạm lắng xuống. Đông đảo người Hoa ỏ Hà Nội đã hăng hái tham gia học tập Hiến pháp, bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân và làm các nghĩa vụ khác. Đời sống người Hoa còn nhiều khó khăn, tâm trạng bi quan. Bà con mong muốn Đảng và Nhà nước sớm công bố chính sách mới đối với người Hoa.

Ngày 17-11-1982, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 10 CT/TW về Chính sách đối với người Hoa trong giai đoạn mới. Hà Nội triển khai thực hiện Chỉ thị 10 CT/TW, được phổ biến đến các cấp các ngành về công tác này. Công tác Hoa vận lúc này thành phố vẫn giao cho Mặt trận theo dõi. Từ đây tình hình người Hoa được ổn định, đội ngũ cốt cán và bà con người Hoa ngày càng yên tâm phấn khởi, tin tưởng chính sách của Đảng đối với người Hoa. Bà con người Hoa đã bớt lo lắng băn khoăn về công ăn việc làm, học hành và hạnh phúc của con cái.

Giữa năm 1983, Thành uỷ giao nhiệm vụ  tham mưu, nghiên cứu về công tác người Hoa, công tác tôn gioá từ Đảng và Mặt trận Tổ quốc Thành phố tham gia công tác Hoa vận dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ban dân vận Thành uỷ. Mặt trận đã góp phần nắm lại tình hình người Hoa, tích cực giúp đỡ khuyến khích họ, tận dụng khả năng của họ vào  công tác, lao động , sản xuất, dịch vụ; giải quyết những khiếu nại của người Hoa có thái độ chính trịn tốt, có thành tích trong lao động sản xuất và công tác, có tín nhiệm trong quần chúng vào Hội đồng Nhân dân các cấp; vận động người Hoa tham gia các đoàn thể quần chúng, phát triển thanh niên người Hoa đủ tiêu chuẩn vào Đoàn và thực hiện nghĩa vụ quân sự. Ngoài ra Mặt trận Tổ quốc Thành phố còn nắm lại và đề nghị kế hoạch bồi dưỡng, đào tạo phát triển đội ngũ cốt cán người Hoa phục vụ cho công tác trước mắt và lâu dài của Thành phố. Mặt trận các cấp có nhiều cố gắng và phối hợp chặt chẽ với các ngành, đoàn thể, các cơ sở thực hiện công tác Hoa vận, đưa dần công tác này vào nề nếp và tình hình người Hoa ở Thủ đô ngày càng ổn định, phong tào củ người Hoa trở lại gắn bó với phong trào chung của thành phố.

Thời kỳ Thủ đô cùng vả nước bước vào chặng đầu thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hôij, Mặt trận đã phát huy vai trò đại biểu của dân đóng góp tích cực trên nhiều lĩnh vực. Song, trong công tác Mặt trận cũng còn nhiều thiếu sót và khuyết điểm:

1. Vận động quần chúng còn theo lối hành chính  quan liêu.
2. Vận động xây dựng nếp sống mới ở Thủ đô chưa đều, chưa triệt để, chỉ đạo thực hiện chưa chu đáo.
3. Hoạt động còn hình thức, thiếu chiều sâu, chưa tổng kết và nhân được điển hình.
4. Kiểm tra, giám sát công tác Mặt trận chưa tốt, phối hợp đồng bộ còn yếu. Nhiều tổ chức chồng chéo, ranh giới hoạt động không rõ ràng. 

Tin liên quan
Liên kết website

Cơ quan Đảng, Nhà nước

Các trường Đại học, Cao đẳng

Cơ quan Báo chí

Các website khác

Số lượt truy cập
Đang online: 285
Hôm qua: 39,051
Tất cả: 26,815,399