Mãi tự hào và sắt son tin yêu

21/01/2020 - 05:29 PM

Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3-2-1930 là một bước ngoặt lịch sử của cách mạng Việt Nam. Từ đó đến nay - thực tiễn đất nước trong 90 năm qua chứng minh sâu sắc rằng, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Nhìn lại sự kiện lịch sử cách đây 90 năm và chặng đường đã qua dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta thêm hiểu và tự hào kiêu hãnh về Đảng, từ đó thêm vững niềm tin yêu sắt son đi theo ngọn cờ cách mạng của Đảng để xây dựng và phát triển đất nước ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn. Nhân kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930 - 3/2/2020), từ số báo này, Ban biên tập trân trọng giới thiệu với bạn đọc loạt bài viết: "MÃI TỰ HÀO VÀ SẮT SON TIN YÊU".

Bài 1: Đến với chủ nghĩa Mác - Lênin là tất yếu lịch sử

Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam và từng bước thiết lập bộ máy cai trị, biến nước ta từ một quốc gia phong kiến thành “một xứ thuộc địa, dân ta là vong quốc nô, Tổ quốc ta bị giày xéo dưới gót sắt của kẻ thù hung ác”. Chính sách thống trị của thực dân Pháp đã làm cho xã hội Việt Nam có nhiều thay đổi. Các phong trào yêu nước, đấu tranh giải phóng dân tộc ngày càng mạnh mẽ nhưng nhanh chóng thất bại và việc cách mạng Việt Nam đến với chủ nghĩa Mác - Lênin là một tất yếu lịch sử.

1. Thực dân Pháp sau khi hoàn thành xâm lược nước ta đã thực hiện nhiều chính sách cai trị. Về chính trị, “mẫu quốc” Pháp tước bỏ quyền lực đối nội, đối ngoại của chính quyền phong kiến nhà Nguyễn. Đó là một chính sách chuyên chế điển hình và chúng thực hiện đàn áp đẫm máu các phong trào, hành động yêu nước của người Việt Nam. Mọi quyền tự do của công dân đều bị cấm. Chúng chia rẽ ba nước Đông Dương, chia Việt Nam thành ba kỳ (Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ) và thực hiện ở mỗi kỳ một chế độ cai trị riêng.

Về văn hóa, thực dân Pháp tiến hành chính sách ngu dân qua việc bưng bít, ngăn cản ảnh hưởng của văn hóa tiến bộ trên thế giới, khuyến khích văn hóa độc hại, xuyên tạc lịch sử, giá trị văn hóa Việt Nam và dung túng, duy trì các hủ tục lạc hậu. Trong lĩnh vực kinh tế, thực dân Pháp cấu kết với giai cấp địa chủ để thực hiện chính sách bóc lột tàn bạo, cướp đoạt ruộng đất để lập đồn điền; ra sức vơ vét tài nguyên, cùng nhiều hình thức thuế khóa nặng nề, vô lý; xây dựng một số cơ sở công nghiệp, hệ thống đường giao thông, bến cảng phục vụ chính sách khai thác thuộc địa.

Sự du nhập chủ nghĩa tư bản theo kiểu thực dân vào nước ta làm cho xã hội Việt Nam từ chế độ phong kiến độc lập đã chuyển thành chế độ thuộc địa với tính chất tư bản thực dân là chủ yếu, nhưng vẫn còn một phần tính chất phong kiến. Chế độ thuộc địa làm phân hóa sâu sắc về giai cấp. Bên cạnh những giai cấp cũ như nông dân, địa chủ phong kiến, các giai cấp mới xuất hiện như công nhân, tiểu tư sản, tư sản. Trừ một bộ phận trong giai cấp địa chủ phong kiến và tư sản mại bản làm tay sai cho đế quốc, còn đại đa số các tầng lớp nhân dân sống với thân phận nô lệ, bị thực dân Pháp áp bức, bóc lột.

Sự áp bức, bóc lột của thực dân Pháp càng tăng thì sự phản kháng của dân tộc càng quyết liệt. Ngay từ khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược, các cuộc đấu tranh của nhân dân ta theo hệ tư tưởng phong kiến đã diễn ra mạnh mẽ từ Nam ra Bắc vào Trung. Sau khi phong trào Cần Vương bị dập tắt vào năm 1896, vào đầu thế kỷ XX, các phong trào đấu tranh vẫn tiếp tục diễn ra hết sức sôi nổi theo khuynh hướng dân chủ tư sản với những gương mặt tiêu biểu như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh cũng không giành được thắng lợi. Phong trào nông dân Yên Thế của Hoàng Hoa Thám kéo dài 30 năm cũng bị đàn áp dã man. Cuộc khởi nghĩa Yên Bái do Nguyễn Thái Học lãnh đạo cũng bị thất bại… Cách mạng Việt Nam chìm trong cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước. Đó là sự thất bại của hệ tư tưởng phong kiến và tư sản. Sự khủng hoảng, bế tắc về đường lối, tổ chức và phương pháp cứu nước cần có lời giải đáp khoa học, đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn Việt Nam và phù hợp với xu thế của thời đại.

2. Trong bối cảnh ấy, giai cấp công nhân được hình thành với việc thực dân Pháp thiết lập các nhà máy, công xưởng, khu đồn điền trồng cây công nghiệp và cây lương thực. Công nhân Việt Nam tuyệt đại đa số xuất thân trực tiếp từ người nông dân thiếu ruộng đất hoặc không có ruộng đất, là những người bị bóc lột về kinh tế rất nặng nề ở nông thôn. Từ số lượng ít ỏi cuối thế kỷ XIX, cùng với nhịp độ khai thác thuộc địa ngày càng tăng của thực dân Pháp, số lượng giai cấp công nhân Việt Nam trong ba thập niên đầu thế kỷ XX đã lên tới khoảng 250.000 người. Giai cấp công nhân Việt Nam có mâu thuẫn dân tộc sâu sắc đối với thực dân xâm lược và ngày càng có vị trí trong xã hội. 

Trong khi cách mạng Việt Nam chìm trong đêm tối chưa tìm thấy lối ra, ngày 5-6-1911, với lòng yêu nước và khát vọng giành độc lập tự do cho dân tộc, Nguyễn Tất Thành (tức Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh sau này) đã ra đi tìm đường cứu nước theo một con đường khác. Với khát vọng cháy bỏng giành độc lập, tự do cho dân, cho nước, Nguyễn Tất Thành đã bất chấp mọi nguy hiểm, gian khổ, đi qua nhiều nước của châu Âu, châu Phi, châu Mỹ và đã rút ra chân lý: Chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc là cội nguồn mọi đau khổ của công nhân và nhân dân lao động ở chính quốc cũng như ở các nước thuộc địa. Nguyễn Tất Thành có mục đích “sang nước Pháp và các nước khác, xem họ làm như thế nào rồi trở về giúp đồng bào”.

Năm 1917, Cách mạng Tháng Mười Nga thành công. Chủ nghĩa Mác - Lênin trở thành hiện thực, được truyền bá rộng rãi, dẫn tới sự ra đời của các đảng cộng sản ở nhiều nước tư bản và thuộc địa. Tháng 3-1919, Quốc tế Cộng sản được thành lập. Năm 1920, Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin được công bố. Những sự kiện quốc tế đó đã thức tỉnh ý thức dân tộc và phong trào đấu tranh giải phóng khỏi ách thực dân ở các nước thuộc địa. Việt Nam chịu tác động của bối cảnh lịch sử đó.

Trong khoảng 10 năm (1911-1920), với sự trải nghiệm ở nhiều nước tư bản và thuộc địa, Nguyễn Tất Thành có sự so sánh giữa cách mạng tư bản Mỹ, Pháp và cách mạng vô sản Nga. Nguyễn Tất Thành với tên gọi khi đó là Nguyễn Ái Quốc đã gia nhập Đảng Xã hội Pháp, nghiên cứu Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin, tham dự Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp, tán thành việc gia nhập Quốc tế Cộng sản và thành lập Đảng Cộng sản Pháp, trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên.

Rõ ràng, trong bối cảnh lịch sử hết sức đặc biệt ấy, việc phong trào cách mạng ở Việt Nam từng bước đến với chủ nghĩa Mác - Lênin là tất yếu. Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh với trải nghiệm của mình đã khẳng định và lựa chọn: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”. Và con đường cứu nước của dân tộc Việt Nam cũng sáng rõ từ đây.

Bài 2: Hồ Chí Minh với việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam

1. Hành trình bôn ba tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh bước sang một trang mới khi Người đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin được Đại hội lần thứ hai Quốc tế Cộng sản họp năm 1920 thông qua (đăng trên báo Nhân đạo, ngày 16 và 17-7-1920).

Luận cương của Lênin đã chỉ cho Nguyễn Ái Quốc con đường giành độc lập, tự do cho dân tộc và đồng bào: “Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”! Từ đó, tôi hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”.

Niềm tin ấy là cơ sở để Nguyễn Ái Quốc vững bước đi theo con đường cách mạng triệt để của chủ nghĩa Mác - Lênin và hướng các hoạt động của mình vào mục tiêu lên án chủ nghĩa thực dân, với nhiều bài viết, bằng thể loại đăng trên các báo: Nhân đạo (L’Humanité), Đời sống công nhân (La Vie Ouvrière), tạp chí Cộng sản (La Revue Communiste),... Niềm tin đó cũng chính là tiền đề để Nguyễn Ái Quốc cùng với những người cách mạng chân chính của nước Pháp bỏ phiếu tán thành tham gia Quốc tế III/Quốc tế Cộng sản tại Đại hội của Đảng Xã hội Pháp, họp tại Tua (tháng 12-1920) và Người là một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên.

Tiếp đó, Người cùng các đại biểu thuộc địa của Pháp đã thành lập Hội Liên hiệp thuộc địa (tháng 4-1921). Hội ra báo Người cùng khổ (Le Paria) làm cơ quan ngôn luận và Người được phân công làm chủ nhiệm, kiêm chủ bút của tờ báo. Le Paria số 1, ngày 1-4-1922 đăng lời kêu gọi, nêu rõ tôn chỉ, mục đích và nhấn mạnh: “Le Paria đã sẵn sàng bước vào cuộc chiến đấu, mục đích của báo chắc chắn sẽ đạt được: Đó là giải phóng loài người”.

Cuối tháng 10-1924, Nguyễn Ái Quốc rời Mátxcơva đi Trung Quốc và đến Quảng Châu ngày 11-11-1924, bắt đầu những hoạt động cụ thể, chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời một chính đảng vô sản kiểu mới cho giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam. Tại đây, Người tiếp xúc với những người Việt Nam yêu nước đang hoạt động tại Quảng Châu, trước hết là tổ chức Tâm Tâm xã. Sau đó, Người mở rộng địa bàn hoạt động; khẩn trương, chủ động và cẩn trọng tiến hành xây dựng tổ chức cách mạng theo từng bước; lập ra nhóm bí mật làm hạt nhân và tiến tới thành lập một tổ chức có tính chất quần chúng rộng để tập hợp những thanh niên yêu nước ở trong và ngoài nước.

Tháng 6-1925, Người thành lập Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên: Tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ, cấp dưới phục tùng cấp trên, thiểu số phục tùng đa số, lấy tự phê bình và phê bình làm phương châm phát triển của mình; trong đó, tất cả các hội viên phải hoạt động trong quần chúng, tuyệt đối giữ bí mật hoạt động của hội, với mục đích: “Hy sinh tính mệnh, quyền lợi, tư tưởng để làm cuộc cách mạng dân tộc (đập tan bọn Pháp và giành lại được độc lập cho xứ sở) rồi sau làm cách mệnh thế giới (lật đổ chủ nghĩa đế quốc và thực hiện chủ nghĩa cộng sản)”.

Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên là một tổ chức quá độ, phù hợp với điều kiện của Việt Nam khi đó. Đây là một sáng tạo, có chủ đích của Nguyễn Ái Quốc, nhằm đưa chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối và phương pháp đấu tranh cách mạng mới vào phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân ta. Tiếp đó, Người mở lớp huấn luyện chính trị khai mạc cuối năm 1925 tại đường Văn Minh (Quảng Châu, Trung Quốc), đào tạo đội ngũ cán bộ làm nòng cốt cho việc tuyên truyền những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về trong nước. Thông qua lớp huấn luyện, các học viên được trang bị những vấn đề cơ bản nhất về chủ nghĩa Mác - Lênin, những nguyên tắc hoạt động bí mật và kỹ năng thực hành các công tác vận động quần chúng... Sau này, những bài giảng của Người được tập hợp, hoàn thiện trong cuốn Đường Kách mệnh. Đây là một tác phẩm quan trọng, một trong những văn kiện lý luận đầu tiên của Đảng ta, đặt cơ sở tư tưởng cho đường lối của cách mạng Việt Nam sau này.

Cùng với việc xây dựng đội ngũ cán bộ, Người chủ trương xuất bản sách và báo chí làm phương tiện tuyên truyền về chủ nghĩa Mác - Lênin và là công cụ đấu tranh cách mạng. Báo Thanh niên, cơ quan ngôn luận của Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên do Người sáng lập và trực tiếp chỉ đạo, đồng thời là cây bút chủ chốt (số 1, ngày 21-6-1925), với các chuyên mục xã hội, bình luận, tin tức, diễn đàn, vấn đáp, phê bình, trả lời bạn đọc...; với những nội dung chính như: Những vấn đề đế quốc và thuộc địa, thực tiễn của cách mạng Việt Nam, Đảng cách mạng và Đảng Cộng sản, cách mạng và mặt trận dân tộc thống nhất, học tập lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin... đã thống nhất phương hướng và nội dung tuyên truyền giáo dục ở trong và ngoài hội.

2. Cùng với hoạt động của những hội viên Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên và phong trào “vô sản hóa”, việc tác phẩm Đường Kách mệnh, Báo Thanh niên và các tờ báo, nguyệt san bí mật được chuyển về Việt Nam đã góp phần quan trọng vào việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng và con đường giải phóng dân tộc theo xu thế của thời đại. Trong đó, tác phẩm Đường Kách mệnh có ý nghĩa sâu sắc. Đây là tập hợp những bài giảng của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã giảng tại lớp Huấn luyện chính trị trong những năm 1925-1927, do Bộ tuyên truyền của Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức Á Đông ấn hành và bí mật được chuyển về trong nước theo nhiều ngả đường khác nhau (trong thời gian 1927-1930).

Trong bối cảnh Việt Nam đang khủng hoảng trầm trọng về đường lối cách mạng, về phương pháp cách mạng và đặc biệt là sự khủng hoảng về tổ chức cách mạng; hơn nữa, trong khi phong trào cách mạng của các dân tộc thuộc địa phát triển, hướng theo khẩu hiệu của Lênin: “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại!”, và ở Việt Nam với chính sách đàn áp hà khắc của thực dân Pháp: Dư luận bị bưng bít thông tin, nhân dân bị đầu độc bởi văn hóa thực dân, thì những nội dung quan trọng của Đường Kách mệnh góp phần trang bị cho nhân dân tư tưởng mới của thời đại, đưa thế giới hội nhập với Việt Nam và đưa cách mạng Việt Nam hòa nhập cùng dòng chảy chung của cách mạng thế giới, càng trở nên có ý nghĩa lớn lao. Đường Kách mệnh hàm chứa những tư tưởng lớn của Hồ Chí Minh, trong đó học thuyết Mác - Lênin được Người đưa vào Việt Nam theo cách của riêng mình thật giản dị, dễ hiểu, làm cho lý luận Mác - Lênin đến với Việt Nam như hạt giống tốt gặp mảnh đất màu mỡ đã được chuẩn bị sẵn sàng.

Chủ nghĩa Mác - Lênin đã xâm nhập vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước, làm thay đổi tính chất, chiều hướng của phong trào đấu tranh yêu nước, dẫn đến thắng lợi của khuynh hướng vô sản; làm chuyển biến phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân từ tự phát, đơn lẻ, sang đấu tranh tự giác, có tổ chức, có lãnh đạo, có sự phối hợp giữa các ngành và các địa phương. Sự phát triển cả bề sâu và bề rộng của phong trào trong những năm 1928-1929 đặt ra một yêu cầu bức thiết, đòi hỏi sự lãnh đạo của một chính đảng kiểu mới của giai cấp công nhân, đã dẫn đến sự ra đời của Đông Dương Cộng sản Đảng (thành lập ngày 17-6-1929), An Nam Cộng sản Đảng (tháng 11-1929) và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn (ngày 1-1-1930).

Bài 3: Sự lựa chọn đúng đắn

Vào nửa cuối năm 1929, ba tổ chức cộng sản là Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản liên đoàn lần lượt được thành lập. Đó là sự lựa chọn đúng đắn, khẳng định bước phát triển quan trọng của cách mạng Việt Nam, đồng thời cũng chỉ ra rằng những điều kiện để thành lập Đảng Cộng sản đã hoàn toàn chín muồi trên phạm vi cả nước.

1. Trở lại tình hình, vào cuối những năm 20 của thế kỷ XX, Bắc Kỳ là nơi có phong trào cách mạng phát triển mạnh hơn cả so với các vùng khác trong cả nước. Tại đây, hai tổ chức là Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên và Việt Nam Quốc dân đảng đang ra sức hoạt động nhằm lôi kéo và tranh giành quần chúng. Trong khi Việt Nam Quốc dân đảng ngày càng tỏ ra lúng túng về phương thức hoạt động thì Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên do Nguyễn Ái Quốc thành lập hoạt động ngày càng hiệu quả. Bên cạnh đó, thông qua phong trào "Vô sản hóa" và nhất là chịu tác động trực tiếp của phong trào cộng sản, nhiều hội viên thanh niên tiên tiến - những học trò xuất sắc của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - đã sớm nắm bắt được các yêu cầu của thời cuộc và nhanh chóng nhận thấy sự cấp thiết phải thành lập một Đảng Cộng sản để thay thế Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên lãnh đạo và đưa phong trào cách mạng ở Việt Nam tiến lên.

Bước sang năm 1929, tình hình cách mạng Việt Nam có nhiều chuyển biến. Đầu tháng 5-1929, tại Đại hội I Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên, Đoàn đại biểu Kỳ bộ Bắc Kỳ đã đưa ra đề nghị giải tán tổ chức thanh niên và thành lập Đảng Cộng sản. Đề nghị này không được chấp nhận, Đoàn bỏ ra về.

Sau khi về tới Hà Nội, ngày 1-6-1929, Đoàn đại biểu Kỳ bộ Bắc Kỳ ra Tuyên ngôn giải thích lý do họ bỏ đại hội ra về và chỉ ra những điều kiện khách quan và chủ quan đã chín muồi để thành lập một chính đảng của giai cấp công nhân. Đến ngày 17-6-1929, 20 đại biểu ưu tú của Kỳ bộ Bắc Kỳ nhóm họp tại nhà số 312 phố Khâm Thiên (Hà Nội) tuyên bố thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng. Hội nghị đã thông qua tuyên ngôn, điều lệ và quyết định xuất bản báo Búa liềm làm cơ quan ngôn luận của Đảng. Tuyên ngôn của Đông Dương Cộng sản Đảng đã xác định rõ tính chất của Đảng: "Đông Dương Cộng sản Đảng là đảng cách mạng, đại biểu cho tất cả anh chị em vô sản giai cấp (tức thợ thuyền) ở Đông Dương. Đảng Cộng sản là đảng bênh vực cho toàn thế giới vô sản giai cấp, nhưng chỉ gồm những người nào giác ngộ cách mạng, tiên tiến hơn cả trong giai cấp vô sản".

Nội dung Tuyên ngôn của Đông Dương Cộng sản Đảng cũng cho thấy trình độ, trí tuệ, tinh thần cách mạng của người soạn thảo. Những nội dung của đường lối chính trị đề ra trong Tuyên ngôn của Đông Dương Cộng sản Đảng đã nhằm vào giải quyết những mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu của xã hội Việt Nam và đặt trong khuôn khổ chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản. Những người khởi xướng và thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng đã quán triệt những quan điểm của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trong Đường kách mệnh (1927) về con đường cách mạng Việt Nam, về vấn đề xây dựng đảng cách mạng. Theo Giáo sư Trần Văn Giàu: "Đông Dương Cộng sản Đảng là tổ chức cộng sản đầu tiên trên nước Việt Nam. Nó khai trương một thời kỳ mới. Nó là kết quả tất yếu của sự truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, của phong trào dân tộc và phong trào công nhân phát triển từ sau Chiến tranh thế giới 1914-1918".

2. Sau khi ra đời, đi cùng với công tác tuyên truyền, Đông Dương Cộng sản Đảng cử người vào Nam Kỳ và đi về các địa phương xây dựng, phát triển cơ sở. Đến tháng 8-1929, nhiều cơ sở đảng, nhất là ở Bắc Kỳ được thành lập. Sự phát triển mạnh mẽ của Đông Dương Cộng sản Đảng tác động tích cực đến bộ phận còn lại của Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên và đến những đại biểu chân chính cách mạng của Tân Việt Cách mạng Đảng, dẫn tới sự ra đời của những tổ chức cách mạng khác vào cuối năm 1929.

Tháng 8-1929, hơn 20 đại biểu tiên tiến của Kỳ bộ Thanh niên Nam Kỳ do Châu Văn Liêm phụ trách họp tại khách sạn ở góc đường Bonard - Filipini (nay là góc đường Lê Lợi, Nguyễn Trung Trực, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh) quyết định thành lập An Nam Cộng sản Đảng. Về lý do thành lập An Nam Cộng sản Đảng, trong "Lời thông cáo giải thích cho đồng chí vì sao phải tổ chức Đảng Cộng sản An Nam" nêu rõ: "Ở An Nam phải tổ chức Đảng Cộng sản là vì hoàn cảnh An Nam, vì sự giác ngộ của những người cách mạng An Nam mà phải tổ chức...".

Điều lệ An Nam Cộng sản Đảng ghi rõ: "An Nam Cộng sản Đảng là chi bộ của Quốc tế Cộng sản nên gọi là An Nam Cộng sản Đảng chi bộ Quốc tế Cộng sản". Về điều kiện vào Đảng: "Ai tin theo chương trình của Quốc tế Cộng sản, hăng hái phấn đấu trong một bộ phận Đảng, phục tùng mệnh lệnh Đảng và góp nguyệt phí, có thể cho vào đảng được". Tuy nhiên, "vào đảng phải qua một thời kỳ dự bị để hiểu cho thấu chương trình và chính sách của Đảng, để Đảng xét tư cách và năng lực từng người".

Sự ra đời của An Nam Cộng sản Đảng đã chứng tỏ việc thành lập một Đảng Cộng sản duy nhất ở Việt Nam đã trở nên chín muồi, phù hợp với yêu cầu bức thiết của phong trào cách mạng Việt Nam. Đồng thời, An Nam Cộng sản Đảng đã góp phần quan trọng đưa chủ nghĩa Mác - Lênin thâm nhập vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước, góp phần cho xu hướng cộng sản phát triển mạnh mẽ và ngày càng thắng thế ở Việt Nam.

Đến thời điểm này, cùng với quá trình phân hóa trong Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên dẫn tới sự ra đời của Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng, xu hướng cộng sản ngày càng lôi cuốn và tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ của đại đa số đảng viên Tân Việt Cách mạng Đảng. Theo đó, tháng 9-1929, các đại biểu chân chính của Tân Việt Cách mạng Đảng họp tại Sài Gòn ra "Tuyên đạt" thành lập Đông Dương Cộng sản liên đoàn. Đến cuối tháng 12-1929, các văn kiện của Đông Dương Cộng sản liên đoàn được chính thức thông qua, đánh dấu quá trình hoàn tất việc thành lập tổ chức Đông Dương Cộng sản liên đoàn. Các đảng viên của Đảng đều là những cá nhân tiên tiến trong Tân Việt Cách mạng Đảng, được giác ngộ cộng sản, đã thoát ly khỏi ảnh hưởng của những người lãnh đạo có khuynh hướng quốc gia cải lương trong Tân Việt Cách mạng Đảng. Cũng từ đây, các tổ chức cơ sở của Tân Việt Cách mạng Đảng đã căn cứ vào nghị quyết, lần lượt tổ chức ra các chi bộ Đông Dương Cộng sản liên đoàn.

Tóm lại, chỉ trong một thời gian ngắn, ba tổ chức cộng sản đã nối tiếp nhau ra đời trên đất nước Việt Nam. Đó là sự lựa chọn đúng đắn, là sự kiện vô cùng mới mẻ, là bước phát triển nhảy vọt của sự truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, của phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Các tổ chức cộng sản ra đời hoàn toàn phù hợp với xu thế phát triển khách quan tất yếu của cách mạng Việt Nam, đi đúng quỹ đạo của thời đại, đáp ứng đúng nguyện vọng và ý chí của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam. Cả ba tổ chức đều có những nhược điểm của thời kỳ mới ra đời, nhưng đã đáp ứng được nhu cầu bức thiết của lịch sử. Hơn nữa, sự xuất hiện và tăng cường hoạt động của Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản liên đoàn vào nửa sau năm 1929 đã khẳng định bước phát triển nhảy vọt của cách mạng Việt Nam, chứng tỏ hệ tư tưởng cộng sản đã giành được ưu thế mạnh mẽ trong phong trào dân tộc.

Bài 4: Mốc son chói lọi của thời đại

Sự chuẩn bị chu đáo về chính trị, tư tưởng và tổ chức đã dẫn đến việc xuất hiện ba tổ chức cộng sản trong nước. Tuy nhiên, thực tế này cũng đã dẫn đến tình trạng tranh giành ảnh hưởng lẫn nhau, chia rẽ và phân liệt phong trào đấu tranh cách mạng. Vì thế, đòi hỏi ra đời của một chính đảng cộng sản duy nhất để lãnh đạo phong trào cách mạng ở nước ta là tất yếu của lịch sử. Trước tất yếu khách quan đó, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời ngày 3-2-1930 là mốc son chói lọi của thời đại.

1. Nhận thức sâu sắc về nguy cơ bất lợi cho sự phát triển phong trào cách mạng Đông Dương trước sự hoạt động của 3 tổ chức cộng sản, ngày 27-10-1929, Quốc tế Cộng sản đã ra chỉ thị, trong đó nêu rõ: “Nhiệm vụ quan trọng nhất và cấp bách nhất của tất cả những người cộng sản Đông Dương là thành lập một đảng cách mạng có tính chất giai cấp của giai cấp vô sản, nghĩa là một Đảng Cộng sản có tính chất quần chúng ở Đông Dương. Đảng đó phải chỉ có một và là tổ chức cộng sản duy nhất ở Đông Dương”.

Lúc này, dù chưa nhận được bản Chỉ thị nói trên, nhưng với nhãn quan chính trị nhạy bén, nhằm thống nhất các tổ chức cộng sản thành một đảng duy nhất để lãnh đạo phong trào cách mạng cả nước, Nguyễn Ái Quốc chủ động, kịp thời trên cương vị “phái viên của Quốc tế Cộng sản có đầy đủ quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến phong trào cách mạng ở Đông Dương” đã gửi thư về nước mời đại diện của các tổ chức cộng sản sang Hồng Kông (Trung Quốc) bàn việc hợp nhất các tổ chức cộng sản. Sau đó, Người đến Trung Quốc cuối tháng 12-1929, gặp gỡ những chiến sĩ cách mạng Việt Nam để tìm hiểu thêm tình hình, rồi đi Hồng Kông chuẩn bị cho hội nghị hợp nhất.

Tại Cửu Long, Hồng Kông, từ ngày 6-1-1930 đến ngày 7-2-1930, Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản đã được tiến hành dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc. Tham dự hội nghị có Trịnh Đình Cửu và Nguyễn Đức Cảnh (đại diện Đông Dương Cộng sản Đảng); Nguyễn Thiệu và Châu Văn Liêm (đại diện An Nam Cộng sản Đảng) và Hồ Tùng Mậu và Lê Hồng Sơn giúp việc hội nghị. Đông Dương Cộng sản liên đoàn đã thành lập, song chưa kịp cử đại biểu tới dự hội nghị. Với vị thế và uy tín của mình, Nguyễn Ái Quốc chân thành phân tích, thuyết phục các đại biểu về những sai lầm và nguy cơ nếu không đoàn kết, thống nhất lại.

Vì thế, trên cơ sở bỏ mọi thành kiến xung đột cũ, hội nghị diễn ra khẩn trương, thuận lợi và đạt được sự nhất trí hoàn toàn khi quyết định đặt tên Đảng là Đảng Cộng sản Việt Nam, thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt, Chương trình tóm tắt của Đảng do Nguyễn Ái Quốc dự thảo dựa trên cơ sở vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối Đại hội VI (1928) của Quốc tế Cộng sản; nghiên cứu các Cương lĩnh chính trị của những tổ chức cộng sản trong nước, tình hình cách mạng thế giới và Đông Dương... Các văn kiện này trở thành Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (tháng 9-1960) đã quyết nghị lấy ngày 3-2 hằng năm làm ngày kỷ niệm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

2. Trong Chính cương vắn tắt  của Đảng đã nêu “chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Đó là mục đích lâu dài, cuối cùng của Đảng và cách mạng Việt Nam. Mục tiêu trước mắt về xã hội làm cho nhân dân được tự do hội họp, nam nữ bình quyền, phổ thông giáo dục cho dân chúng; về chính trị đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, lập chính phủ, quân đội của nhân dân (công, nông, binh); về kinh tế là xóa bỏ các thứ quốc trái, bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo, thu hết sản nghiệp lớn của đế quốc giao chính phủ nhân dân quản lý, thu hết ruộng đất chiếm đoạt của đế quốc làm của công chia cho dân cày nghèo, phát triển công, nông nghiệp và thực hiện lao động 8 giờ. Những mục tiêu đó phù hợp với lợi ích cơ bản của dân tộc, nguyện vọng tha thiết của nhân dân ta.

Sách lược vắn tắt của Đảng nêu rõ, Đảng là đội tiền phong của giai cấp công nhân, thu phục giai cấp, lãnh đạo dân chúng nông dân; liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông; tranh thủ, phân hóa trung tiểu địa chủ và tư sản dân tộc, đoàn kết với các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản thế giới để hình thành mặt trận thống nhất đánh đuổi đế quốc, đánh đuổi bọn đại địa chủ và phong kiến, thực hiện khẩu hiệu nước Việt Nam độc lập, người cày có ruộng. Trong khi đó, Chương trình tóm tắt của Đảng và Điều lệ vắn tắt của Đảng nêu chính xác tên Đảng, tôn chỉ của Đảng, hệ thống tổ chức của Đảng từ chi bộ, huyện bộ, thị bộ hay khu bộ; tỉnh bộ, thành bộ hay đặc biệt bộ và trung ương.

Toàn bộ Cương lĩnh đầu tiên của Đảng toát lên tư tưởng lớn là cách mạng dân tộc dân chủ Việt Nam tất yếu đi tới cách mạng xã hội chủ nghĩa, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; sự nghiệp đó là của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam - Đảng Mác - Lênin. Đây là kết quả của một tư duy sáng tạo, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại, thực sự cần thiết và phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam.

Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản đã hoàn thành trọn vẹn nhiệm vụ lịch sử trọng đại của mình, tạo bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử đấu tranh giải phóng và phát triển của cách mạng Việt Nam. Thành công của hội nghị và sự ra đời của Đảng ta là một tất yếu lịch sử, một xu thế không thể đảo ngược. Ngày 8-2-1930, các đại biểu dự hội nghị thành lập Đảng trở về nước. Ngày 24-2-1930, một hội nghị quan trọng được tổ chức tại Sài Gòn để xem xét yêu cầu gia nhập và nhất trí công nhận Đông Dương Cộng sản liên đoàn được gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam.      

Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiền phong của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam ra đời đã chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về vai trò lãnh đạo cách mạng, mở đầu một thời kỳ mới: Thời kỳ giai cấp công nhân và Đảng tiên phong đứng ở vị trí trung tâm, lãnh đạo cách mạng Việt Nam theo con đường cách mạng vô sản, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Hội nghị thành lập Đảng gắn liền với trí tuệ, uy tín và đạo đức cách mạng trong sáng; tính chủ động, sáng tạo, chính xác và kịp thời của Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh).

Đánh giá sự kiện trọng đại này và những quyết định có ý nghĩa lịch sử của Nguyễn Ái Quốc ở vào thời khắc quan trọng nhất, Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết: “Thiên tài của Người chính là ở chỗ đã phát hiện ra con đường đó. Nó tạo ra sức mạnh của Người, sức mạnh của dân tộc, của tất cả chúng ta”.

Bài 5: Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh với sự truyền bá tư tưởng cách mạng, sáng lập ngành Tuyên giáo của Đảng

Các nước Anh, Mỹ, Pháp đã tiên phong thay đổi phương thức sản xuất hiện đại và đánh đổ nền đế chế phong kiến, mở ra thời đại mới “tự do, bình đẳng, bác ái” ở châu Mỹ và châu Âu. Nhưng, thật đáng tiếc, chính giai cấp tư sản của các nước nêu trên đã trở thành điển hình của chủ nghĩa thực dân, đế quốc.

Sau này, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc gọi đó là những cuộc cách mạng “chưa triệt để”, vì những người lao động sáng tạo và làm ra của cải vật chất cho xã hội vẫn bị đối xử tàn bạo, giai cấp tư sản đã thiết lập nền thống trị khắp năm châu; chúng như những con bạch tuộc vươn vòi tranh chấp thuộc địa, gây ra những cuộc chiến tranh đẫm máu cho nhân loại. Việt Nam là một quốc gia vốn có lịch sử lâu đời và oanh liệt trong tiến trình dựng nước gắn liền với giữ nước, nhưng từ nửa cuối thế kỷ XIX đã trở thành thân phận vong quốc nô dưới ách thống trị của thực dân Pháp xâm lược. 

Tháng 2-1848, Tuyên ngôn Đảng Cộng sản ra đời, phát sáng một luồng tư tưởng tiên tiến, khẳng định sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản, đồng thời báo hiệu một thời đại mới: Thời đại mà những người cần lao, bị áp bức bóc lột trên toàn thế giới sẽ nhất tề vùng lên đánh đổ sự thống trị của chủ nghĩa thực dân, đế quốc, giải phóng con người, giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc - sự nghiệp giải phóng vĩ đại như vậy chỉ có thể thành công dưới sự lãnh đạo của một chính đảng vô sản.

Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi là kết quả của sự vận dụng, phát triển Chủ nghĩa Mác - Ăngghen trong bối cảnh cụ thể của nước Nga ở đầu thế kỷ XX, là sự kiểm định lịch sử về tính đúng đắn của học thuyết Lênin. Nhờ có vốn kinh nghiệm xương máu khi lăn xả vào phong trào cách mạng xã hội ở Pháp, với sự nhạy cảm chính trị và tư duy đi trước thời đại, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã tiếp cận, thấu hiểu được chân lý thời đại trong bản sơ thảo Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa. Gần 100 năm trước đây, trong đêm khuya tĩnh lặng, từ căn phòng nhỏ hẹp ở Paris, Nguyễn Ái Quốc đã không kìm nén được cảm xúc khi reo lên “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ, đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”. Rồi sau đó, trong những cuộc tiếp xúc với bạn bè, đồng chí, Người đã dứt khoát rằng: “Đối với tôi, mọi thứ đều đã rõ, bây giờ tôi chỉ muốn mau chóng trở về để giúp đồng bào mình. Sự thủy chung với Tổ quốc, với đồng bào, tính kiên định trong tư tưởng cứu nước của Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc thật sự không gì lay chuyển nổi”.

Phát huy sức mạnh của vũ khí tư tưởng

Trong đề tựa cuốn “Đường kách mệnh” - cẩm nang lý luận cách mạng do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo có nêu: “Không có lý luận cách mệnh thì không có cách mệnh vận động... Chỉ có theo lý luận cách mệnh tiền phong, đảng cách mệnh mới làm nổi trách nhiệm cách mệnh tiền phong”. Đó là tư tưởng cốt lõi của chủ nghĩa Lênin, thực sự là nguồn sáng dẫn đường, chỉ lối cho những lớp học viên đầu tiên được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc huấn luyện tại Quảng Châu (Trung Quốc), rồi từ đó, họ được đưa về nước gieo những “hạt giống đỏ” trong phong trào cách mạng nước nhà.

Để đưa chủ nghĩa Mác - Lênin dần trở thành nền tảng tư tưởng cho chính đảng vô sản ở Việt Nam, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã rất dày công tự nghiên cứu và biên soạn tài liệu với cấu trúc và ngôn ngữ biểu đạt hết sức cô đọng, dễ hiểu, dễ truyền bá. Nguyễn Ái Quốc từ rất sớm đã thấy được sức mạnh của diễn thuyết và của sách báo trong sứ mệnh truyền bá tư tưởng yêu nước. Khi đang là học sinh của Trường Quốc học Huế, giữa lúc phong trào Duy Tân sôi động khắp miền Trung, Nguyễn Tất Thành đã tự nguyện làm cầu nối để truyền lời thỉnh cầu của dân chúng với chính quyền thực dân tại Huế, vì thế Người đã bị đuổi học.

Khi làm thầy giáo ở Trường Dục Thanh (Phan Thiết), Nguyễn Tất Thành đã có những buổi diễn thuyết về truyền thống yêu nước của dân tộc để khơi dậy lòng yêu nước của trẻ thơ. Khoảng thời gian sinh sống và hoạt động cách mạng ở Pháp, Người đã gần gũi, chan hòa, chia sẻ, đồng cảm với những người cùng khổ, viết sách, báo để tuyên truyền cách mạng, tờ báo “Người cùng khổ” và cuốn sách “Bản án chế độ thực dân Pháp” thực sự là vũ khí sắc bén mà Nguyễn Ái Quốc bắt đầu sử dụng cho quá trình khai tử chế độ thực dân Pháp ở Việt Nam, góp phần quan trọng cổ vũ các nước bị áp bức thống trị trên thế giới đứng lên đấu tranh giành độc lập.

Những bài phát biểu của Nguyễn Ái Quốc tại các diễn đàn quốc tế, được nhiều tờ báo quốc tế đăng, nhất là với Bản yêu sách 8 điểm mà Nguyễn Ái Quốc gửi Hội nghị Vécxai đã trở thành một xu hướng tư tưởng hoàn toàn mới đối với phong trào cách mạng ở Việt Nam và những thuộc địa khác trên thế giới. Báo Thanh niên do Nguyễn Ái Quốc sáng lập ngày 21-6-1925 là kết quả sự đúc kết kinh nghiệm vô cùng quý báu của Nguyễn Ái Quốc - một nhà báo chưa bao giờ qua trường lớp đào tạo viết văn, làm báo, mà tự đào tạo trong thực tiễn đấu tranh cách mạng, tự trang bị vốn kiến thức và kỹ năng viết sách, báo, trưởng thành trong trường đời đấu tranh cách mạng. Điều khác biệt lớn nhất giữa nhà báo - nhà văn - nhà thơ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh với thế giới còn lại của báo chí, văn học chính là: Viết không phải để nuôi sống bản thân mà viết để tải đạo cứu người, cứu đời. Mục tiêu thánh thiện ấy đã mang lại sức sống vĩnh hằng trong mỗi cuốn sách, mỗi bài báo, mỗi vần thơ của Người, sức mạnh của tư tưởng Hồ Chí Minh chính là ở tính thuyết phục, sự cảm hóa, cổ vũ, thôi thúc con người biết chấp nhận hy sinh cho Tổ quốc, cho đồng bào, cho nhân loại cần lao.

Đảng làm nên những kỳ tích cho lịch sử dân tộc thời hiện đại trước hết là nhờ Đảng, Bác Hồ đã biết sáng tạo nên một trong những phương thức đấu tranh cách mạng có tính tiên phong, mở đường cho mọi phong trào cách mạng, đó là mặt trận tư tưởng. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là thành quả của công tác tư tưởng dưới sự lãnh đạo tài tình của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, của Đảng Cộng sản Việt Nam; cả một dân tộc biết đoàn kết dưới cờ Đảng, cờ Tổ quốc, đấu tranh sinh tử đòi lại quyền tự quyết cho dân tộc.

Sức mạnh tinh thần “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”, “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước thực sự là minh chứng cho sức mạnh của vũ khí tư tưởng, sức mạnh tinh thần yêu nước, của lòng dân theo Đảng, theo Bác Hồ. Hơn 30 năm qua, nhờ có công tác tư tưởng mở đường mà sự nghiệp đổi mới đất nước thành công, mang lại diện mạo mới, vị thế mới, vận hội mới, nuôi dưỡng khát vọng mới cho dân tộc Việt Nam.

Công tác tư tưởng của Đảng mãi là ngọn đuốc thiêng thắp sáng niềm tin

Thứ nhất, đặt trong tổng thể các phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng thì công tác tư tưởng là khó nhất, phức tạp nhất, vì nó là lĩnh vực tác động vào thế giới nội tâm của con người, xã hội; truyền cảm hứng đấu tranh cho sự tiến bộ, hình thành những giá trị mới, nên vừa phải tác động làm thay đổi nhận thức, đồng thời phải cổ vũ, khích lệ hành động cách mạng trong từng giai tầng xã hội. Tất cả các binh chủng trên mặt trận tư tưởng của Đảng (báo chí, tuyên truyền, văn hóa, văn nghệ, khoa giáo) đều phải thực sự như những con thuyền tải đạo, hướng tới mục tiêu tối thượng “việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”.

Thứ hai, muốn làm tốt công tác tư tưởng cho xã hội thì người làm công tác tư tưởng trước hết phải làm thông tư tưởng chính mình; do đó, phải tuyệt đối trung thành với Đảng, với Bác Hồ, kiên định lập trường tư tưởng cách mạng, giữ vững bản lĩnh chính trị trong mỗi cá nhân, tổ chức của toàn hệ thống tuyên giáo, dám đối mặt với khó khăn, thách thức, tiên phong đổi mới, sáng tạo, làm hạt nhân cho cả hệ thống chính trị vào cuộc cùng ngành Tuyên giáo để làm tốt công tác tư tưởng của Đảng trong mọi hoàn cảnh lịch sử - đó chắc chắn là chìa khóa thành công.

Thứ ba, tham mưu với Đảng những kế sách hay trên mặt trận tư tưởng phải thể hiện sự nhạy bén chính trị, có tính đón đầu, khai thông tư tưởng, mở đường cho nghiệp lớn của Đảng, của dân tộc. Sản phẩm hiến kế được hình thành trên tiền đề của những dự báo xu hướng tư tưởng chính trị sát tình hình trong nước, quốc tế, có cơ sở khoa học vững chắc của khảo sát, đúc kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận một cách nghiêm túc, vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể trong từng lĩnh vực, địa bàn, tầng lớp xã hội. Chất lượng, hiệu quả tham mưu trên lĩnh vực tuyên giáo phải được thẩm định bởi thực tiễn cách mạng, mang lại niềm hứng khởi, tin tưởng của người dân, thấy được sự chuyển biến tích cực rõ nét trong đời sống xã hội; tạo sự nhất trí cao trong Đảng, sự đồng thuận sâu rộng trong xã hội đối với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Thứ tư, giá trị mỗi con người trong toàn ngành Tuyên giáo được định vị ngoài ý muốn chủ quan, chỉ khi nào có cống hiến thực sự cho Đảng, cho đất nước thì mới được tôn vinh. Mỗi người sinh ra và trưởng thành đều nhờ tự học, tự khẳng định giá trị của bản thân, của ngành mình. Tuyên giáo là một nghề có tính đặc thù, nghề đòi hỏi có sự tổng hợp của các kiến thức lý luận chính trị, tư tưởng, văn hóa, xã hội, cùng với những kiến thức chuyên sâu liên quan đến từng lĩnh vực cụ thể, không được định sẵn trong quá trình đào tạo; lại thường phải thích ứng với sự chấp hành phân công của các cấp có thẩm quyền. Vì vậy, muốn hoàn thành nhiệm vụ rất cần mỗi người trong ngành Tuyên giáo phải không ngừng học hỏi, bổ sung kiến thức, rèn luyện kỹ năng cho phù hợp với nhiệm vụ được giao; nếu không làm như vậy, tất yếu sẽ bị tụt lại so với yêu cầu cách mạng.

Bài 6: Khẳng định vị thế qua 15 năm tạo dựng Nhà nước công nông

15 năm đầu tiên kể từ ngày thành lập (1930-1945), Đảng Cộng sản Việt Nam (từ tháng 10-1930 đổi tên thành Đảng Cộng sản Đông Dương) đã lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện ba cao trào cách mạng, mà đỉnh cao là Cách mạng Tháng Tám năm 1945, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do cho dân tộc. Với những đóng góp to lớn ấy, Đảng ta đã khẳng định vị thế vững chắc trong trái tim đồng bào, tạc vào lịch sử những dòng chữ vàng về vai trò lãnh đạo cách mạng.

1. Ngay trong hội nghị thành lập năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng do đồng chí Nguyễn Ái Quốc soạn thảo. Đây là cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, là cơ sở chỉ đạo đối với toàn bộ quá trình cách mạng, nhất là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Việt Nam. Khẩn trương xây dựng tổ chức, hình thành chủ trương, đường lối, Đảng đã bám sát tình hình và bắt tay ngay vào lãnh đạo, chỉ đạo phong trào cách mạng. Trong 15 năm kể từ ngày thành lập, Đảng Cộng sản Đông Dương đã cho thấy, tuy là một đảng cách mạng non trẻ, nhưng vô cùng bản lĩnh, trí tuệ, giàu sức chiến đấu và nhạy bén với thời cuộc.

Trước tiên là cao trào cách mạng 1930-1931, mà đỉnh cao là phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh đã làm rung chuyển chế độ thực dân Pháp và tay sai. Lần đầu tiên công nhân và nông dân liên minh đấu tranh dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương. Quần chúng cách mạng đã vùng dậy trừng trị bọn cường hào, phản động tay sai thân thực dân Pháp, thành lập chính quyền cách mạng ở một số nơi theo hình thức Xô Viết. Mặc dù chỉ tồn tại trong vòng 7 tháng và còn sơ khai, nhưng phong trào này đã để lại những dấu ấn tốt đẹp về một chế độ công - nông chưa có trong lịch sử dân tộc.

Cao trào cách mạng 1930-1931 và đặc biệt là phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh là cuộc tổng diễn tập đầu tiên của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng; khẳng định rõ vai trò, vị trí lãnh đạo, đặc biệt là năng lực lãnh đạo cách mạng của Đảng trong lòng quần chúng nhân dân. Đây là tiền đề vô cùng quan trọng giúp Đảng tập hợp lực lượng, chuẩn bị cho những cuộc đấu tranh trong giai đoạn tiếp theo.

Vượt qua nhiều khó khăn, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ I diễn ra từ ngày 27 đến 31-3-1935, tại Ma Cao (Trung Quốc) đã vạch ra đường lối mới cho cách mạng Việt Nam. Đồng chí Lê Hồng Phong được bầu làm Tổng Bí thư. Ban Chấp hành Trung ương nhất trí cử đồng chí Nguyễn Ái Quốc là đại biểu của Đảng bên cạnh Quốc tế Cộng sản.

Trong cao trào cách mạng đòi dân sinh, dân chủ (1936-1939), tháng 7-1936, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương họp ở Thượng Hải (Trung Quốc) đã xác định nhiệm vụ chiến lược của cách mạng tư sản dân quyền Đông Dương là chống đế quốc và chống phong kiến; nhiệm vụ trực tiếp, trước mắt là đấu tranh chống chế độ phản động thuộc địa, chống phát xít, chống chiến tranh, đòi tự do, dân sinh, dân chủ, cơm áo và hòa bình. Phương pháp đấu tranh là kết hợp các hình thức công khai và bí mật, hợp pháp và bất hợp pháp. Đặc biệt, tại hội nghị, Đảng đã có chủ trương thành lập Mặt trận Thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương.

Trong những năm tiếp theo, Đảng ta tiếp tục hoàn thiện đường lối này. Đây là cơ sở giúp cho cuộc đấu tranh trong giai đoạn này của cách mạng Việt Nam đạt nhiều kết quả; nổi bật là buộc chính quyền thực dân phải nhượng bộ một số yêu sách về dân sinh, dân chủ. Từ các cuộc đấu tranh quy mô lớn trên khắp cả nước, Đảng đã giác ngộ đông đảo quần chúng nhân dân, đưa nhân dân trở thành lực lượng hùng hậu của cách mạng. Kết quả này càng củng cố thêm tiềm năng, tiềm lực của lực lượng cách mạng, nhất là năng lực lãnh đạo của Đảng.

2. Cao trào cách mạng giải phóng dân tộc (1939-1945) đã đưa Đảng ta, dân tộc ta tới vị thế của người chiến thắng. Sức mạnh đại đoàn kết dân tộc đã được phát huy cao độ, tạo thành những cơn thác lũ cuốn phăng sự thống trị của thực dân, phong kiến. Trong giai đoạn này, vai trò lãnh đạo cách mạng của Đảng được thể hiện sinh động và rực rỡ, nhất là sự nhạy bén và quyết đoán trong những thời khắc lịch sử để giành lợi thế và thắng lợi về cho dân tộc. Trong đó phải kể đến Hội nghị lần thứ tám (từ ngày 10 đến 19-5-1941) họp tại khu rừng Pác Pó (huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng) dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Trung ương Đảng đã quyết định chuyển hướng chiến lược đấu tranh cách mạng với việc thành lập Mặt trận Việt Minh, ra lời kêu gọi đoàn kết rộng rãi mọi lực lượng yêu nước đứng lên, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, tích cực chuẩn bị mọi mặt sẵn sàng khởi nghĩa giành độc lập khi thời cơ đến.

Tháng 7-1945, sau khi phát xít Đức, Ý bại trận, phát xít Nhật chuẩn bị đầu hàng, Đảng đã sáng suốt nhận định thời cơ cách mạng đang đến gần. Bác Hồ kính yêu của chúng ta khi ấy đã khẳng định quyết tâm giành độc lập, đồng thời toát lên toàn bộ tinh thần lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng của Đảng bằng câu nói đã thành huyền thoại: “Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh đến đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác, nhân dân cả nước đồng loạt vùng dậy, tiến hành Tổng khởi nghĩa, giành chính quyền. Chỉ trong 15 ngày cuối tháng 8-1945, cuộc Tổng khởi nghĩa đã giành thắng lợi hoàn toàn, chính quyền trong cả nước về tay nhân dân. Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, trước cuộc mít tinh của hàng chục vạn đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Lâm thời trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, mở ra kỷ nguyên tự do, độc lập cho dân tộc.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã phá tan sự thống trị của thực dân và lật đổ chế độ phong kiến, mở ra bước ngoặt vĩ đại của cách mạng. Từ đây, dân tộc Việt Nam bước sang kỷ nguyên mới: Kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Từ một xứ thuộc địa nửa phong kiến, dưới sự lãnh đạo của Đảng, toàn dân Việt Nam đã tạo dựng nên một quốc gia độc lập và Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Từ thân phận nô lệ, nhân dân ta đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội.

Với thực tiễn 15 năm lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành chính quyền (1930-1945), Đảng Cộng sản Đông Dương đã đặt ra và giải quyết thành công nhiều vấn đề, nhiều mối quan hệ cơ bản trong đường lối chiến lược và sách lược, bảo đảm cho phong trào cách mạng phát triển đúng hướng, phát huy được sức mạnh của cả dân tộc. Trong đó, Đảng đã giải quyết hiệu quả quan hệ giữa Đảng và nhân dân, giữa xây dựng Đảng và xây dựng, phát triển lực lượng cách mạng của quần chúng; quan hệ giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại; giữa phát huy sức mạnh bên trong với tranh thủ những điều kiện, thời cơ thuận lợi do tình hình quốc tế đem lại; quan hệ giữa chủ động chớp thời cơ và đẩy lùi nguy cơ, tổ chức và sử dụng các lực lượng cách mạng…

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công do nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định là sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”.

Bài 7: Vững vàng đưa đất nước chiến thắng hai cuộc chiến tranh xâm lược

Trong thế kỷ XX, Việt Nam phải đương đầu với hai lực lượng xâm lược có tiềm lực kinh tế và quân sự mạnh hơn gấp nhiều lần là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo của Đảng, với đường lối kháng chiến đúng đắn, sáng tạo, phát huy truyền thống đoàn kết, yêu nước và đấu tranh cách mạng, quân dân Việt Nam đã khắc phục mọi khó khăn, gian khổ, giành thắng lợi từng bước đến giành thắng lợi hoàn toàn vào năm 1975.

1. Ngay từ thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (19-12-1946), trong đó nhấn mạnh: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm. Không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy, gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”. Tiếp đó, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị “Toàn dân kháng chiến”. Để giải thích và phát triển đường lối kháng chiến của Đảng, trong tác phẩm “Kháng chiến nhất định thắng lợi”, Tổng Bí thư Trường Chinh vạch rõ kẻ thù chính của nhân dân ta là thực dân Pháp xâm lược; mục đích của kháng chiến là giành độc lập và thống nhất; đường lối chung chỉ đạo toàn bộ cuộc kháng chiến là “toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh”.

Thực hiện đường lối kháng chiến đó, quân dân Việt Nam đã giành nhiều thắng lợi, khiến thực dân Pháp thất bại thảm hại, đặc biệt là trong Chiến dịch Việt Bắc - Thu Đông 1947. Trong chiến dịch này, thực hiện Chỉ thị “Phá tan cuộc hành quân mùa Đông của giặc Pháp” của Ban Thường vụ Trung ương Đảng (15-10-1947), Việt Bắc đã trở thành “mồ chôn” binh lính Pháp với những địa danh đi vào lịch sử như chiến thắng Bình Ca, Thất Khê, Bông Lau…

Sau chiến thắng Việt Bắc, trước yêu cầu của cuộc kháng chiến, Hội nghị Trung ương mở rộng họp từ ngày 15 đến 17-1-1948 đã đề ra những nhiệm vụ lớn nhằm đẩy mạnh việc phá hoại âm mưu về quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa của thực dân Pháp. Tiếp đó, từ ngày 14 đến 18-1-1949, Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ sáu đã quyết định phải đẩy mạnh hơn nữa cuộc kháng chiến về mọi mặt…

Thực hiện chủ trương của Đảng, ngày 28-8-1949, Đại đoàn 308 - đơn vị chủ lực đầu tiên được thành lập, tiếp đó là sự phát triển mọi mặt của lực lượng vũ trang. Để đẩy mạnh cuộc kháng chiến lên một bước mới, tháng 6-1950, Ban Thường vụ Trung ương Đảng quyết định mở Chiến dịch Biên giới. Theo đó, ngày 16-9-1950, Chiến dịch Biên giới mở màn ở cứ điểm Đông Khê. Sau gần một tháng tiến công, bao vây, truy kích và diệt viện binh, Chiến dịch Biên giới toàn thắng, căn cứ địa Việt Bắc được mở rộng và nối liền với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa mới ra đời. Từ ngày 11 đến 19-2-1951 tại Chiêm Hóa (Tuyên Quang), Đảng Cộng sản Đông Dương tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II, thống nhất lấy tên là Đảng Lao động Việt Nam.

Phát huy thắng lợi của Chiến dịch Biên giới, trong hai năm 1952 và 1953, quân dân ta tổ chức Chiến dịch Tây Bắc (tháng 10-1952 đến tháng 12-1952) và Chiến dịch Thượng Lào (tháng 4 và tháng 5-1953) thắng lợi, tạo bước ngoặt cho cuộc kháng chiến. Trước tình hình đó, giữa năm 1953, H.Navarre được Chính phủ Pháp cử sang làm Tổng Chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương, đã vạch ra kế hoạch quân sự toàn diện, có hệ thống nhằm giành lại quyền chủ động trên chiến trường, hy vọng trong 18 tháng sẽ “chuyển bại thành thắng”.

Nhằm phá kế hoạch Nava, Bộ Chính trị thông qua kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1953-1954; nêu ra các nguyên tắc về chỉ đạo chiến lược và chỉ đạo tác chiến là: “Chọn nơi địch sơ hở mà đánh, chọn nơi địch tương đối yếu mà đánh; giữ vững chủ động, kiên quyết buộc địch phải phân tán lực lượng”. Trong năm 1953-1954, quân dân Việt Nam đã giành nhiều thắng lợi quan trọng. Đặc biệt, với thắng lợi của Chiến dịch Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” (từ ngày 13-3 đến 7-5-1954), chúng ta đã buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ (21-7-1954), kết thúc thắng lợi 9 năm kháng chiến chống Pháp.

2. Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, trong Hội nghị Trung ương lần thứ mười ba (tháng 12-1957), Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Ta đang đồng thời tiến hành hai chiến lược cách mạng - cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Tháng 9-1960, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng được tổ chức tại Thủ đô Hà Nội đã vạch ra đường lối mới cho cách mạng Việt Nam.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân miền Bắc đã vượt qua nhiều khó khăn, ra sức phát triển kinh tế - xã hội; trực tiếp đánh thắng hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ; đồng thời, với tinh thần “Tất cả cho tiền tuyến”, “Tất cả để đánh thắng”, quân dân miền Bắc đã làm tròn nghĩa vụ của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn miền Nam.

Về phía đế quốc Mỹ, sau thắng lợi của phong trào “Đồng khởi” của nhân dân miền Nam, từ năm 1961 đến năm 1973, chúng liên tiếp tiến hành các chiến lược chiến tranh: Chiến tranh đặc biệt (1961-1965), Chiến tranh cục bộ (1965-1968) và Việt Nam hóa chiến tranh (1969-1973) ở miền Nam Việt Nam. Trong hoàn cảnh ngặt nghèo đó, Đảng đã đề ra nhiều chủ trương, quyết sách đúng đắn để lãnh đạo cuộc kháng chiến. Tháng 1-1961, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) quyết định thành lập Trung ương Cục miền Nam thay cho Xứ ủy Nam Bộ trước đây để trực tiếp chỉ đạo cách mạng miền Nam, đẩy mạnh xây dựng lực lượng cả quân sự lẫn chính trị trên cả ba vùng chiến lược.

Tháng 9-1964, Bộ Chính trị cử Đại tướng Nguyễn Chí Thanh và một số tướng lĩnh cao cấp vào tăng cường chỉ đạo cách mạng miền Nam. Tháng 3-1965, Hội nghị lần thứ mười một Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhấn mạnh: Ra sức tranh thủ thời cơ, tập trung lực lượng của cả nước giành thắng lợi quyết định ở miền Nam trong thời gian tương đối ngắn… Tháng 1-1968, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ mười bốn họp, thông qua Nghị quyết Bộ Chính trị thực hiện “Tổng công kích” - “Tổng khởi nghĩa” để giành thắng lợi quyết định cho sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Tháng 6-1970, Bộ Chính trị ra Nghị quyết “Về tình hình mới trên bán đảo Đông Dương và nhiệm vụ mới của chúng ta”, nêu rõ: Huy động sức mạnh cả nước tiến hành tiến công, phản công đánh Mỹ và tay sai trên toàn Đông Dương… Thực hiện những chủ trương đó, quân dân ta đã giành nhiều thắng lợi vang dội, buộc đế quốc Mỹ phải ký Hiệp định Paris (27-1-1973) về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Tháng 7-1973, Hội nghị lần thứ hai mươi mốt Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III ra Nghị quyết về “Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và nhiệm vụ của cách mạng miền Nam Việt Nam trong giai đoạn mới”. Thực hiện nghị quyết này, cả miền Nam và miền Bắc đều thi đua chiến đấu và lao động sản xuất với tinh thần giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Đến ngày 30-4-1975, Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ kết thúc thắng lợi. Chiến công này được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (1976) khẳng định: “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”.

Như vậy, trong những năm 1945-1975, dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, nhân dân ta đã đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Đây là những chiến công chói lọi trong “pho sử bằng vàng” của Đảng. Đồng thời, từ thực tiễn lãnh đạo đất nước đánh thắng hai cuộc chiến tranh xâm lược, Đảng đã để lại nhiều bài học lịch sử quý báu, như nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu khẳng định: “Bài học kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng trong cuộc chiến tranh 30 năm có ý nghĩa thực tiễn lớn lao và có giá trị lâu dài đối với sự nghiệp lãnh đạo của Đảng và đối với kế sách dựng nước và giữ nước của dân tộc ta trong giai đoạn hiện nay”.

hanoimoionline

Các tin tức khác
Kết quả bình chọn Hàng Việt Nam được người tiêu dùng yêu thích 2018