CÁN BỘ, NHÂN DÂN THỦ ĐÔ TÍCH CỰC THAM GIA THỰC HIỆN " NÂNG CAO HIỆU LỰC, HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ" VÀ " NÂNG CAO NĂNG LỰC HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG MẶT TRẬN THÀNH PHỐ HÀ NỘI"
Giai đoạn 1965-1975: Mặt trận Tổ quốc Thành phố Hà Nội với nhiệm vụ xây dựng CNXH trong chiến tranh
Hà Nội, 12/05/2010
Từ năm 1965 nhân dân Hà Nội phải xây dựng Thủ đô trong điều kiện miền Bắc có chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, nhất là từ giữa năm 1966 đế quốc Mỹ trực tiếp đánh phá Hà Nội bằng không quân. Miền Bắc tuy có chiến tranh nhưng vẫn là hậu phương lớn của chiến trường miền Nam và Hà Nội vẫn là Thủ đô xã hội chủ nghĩa, là trái tim của cả nước.

Trong hoàn cảnh đó, nhiệm vụ của nhân dân thủ đô được xác định là : động viên tinh thần cách mạng của nhân dân Thủ đô quyết tâm tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện có chiến tranh, phát triên lực lượng sản xuất, hoàn thiện quan hệ xản xuất xã hội chủ nghĩa, tổ chức đời sống nhân dân và quản lý Thành phố về mọi mặt, quyết chiến và quyết thắng mọi hành động chiến tranh của đế quốc Mỹ với Thủ đô, tích cực chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam.  

Khi đế quốc Mỹ buộc phải chấp nhận chấm dức ném bom miền Bắc, nhân dân thủ đô bắt tay vào khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế, tăng cường quản lý kinh tế và xã hội.

Đây là thời kỳ sôi động của Thủ đô, nhiệm vụ nặng nề, luôn biến động và phát triển đòi hỏi khối đoàn kết toàn dân thấy rõ nhiệm vụ chung của Thành phố và của đoàn thể của ngành mình mà phấn đấu kiên cường cho sự thắng lợi của cách mạng ở Thủ đô. Trong hoàn cảnh đó, Mặt trận đã luôn xác định đúng, kịp thời nhiệm vụ của mình và triển khai nhiệm vụ đó có hiệu quả. Bắc đầu vào thời kỳ mới này, Mặt trận xác định ngay nhiệm vụ của Thành phố trong thời kỳ mới; làm cho nhân dân thấm nhuần đường lối chiến tranh nhân dân, đương lối xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện chiến tranh; động viên phong trào cách mạng trong các giới các ngành; tích cực tham gia xây dựng và củng cố chính quyền; củng cố tổ chức Mặt trận và xây dựng Mặt trận các cấp, xây dựng kế hoạch công tác phục vụ sẵn sàng chiến đấu. Hàng năm Mặt trận lại cụ thể hoá nhiệm vụ cảu mình nhằm tích cực giải quyết những đòi hỏi về xây dựng và bảo vệ của Thủ đô như công tác trật tự an ninh xã hội; công tác sơ tán phòng không; đẩy mạnh công tác chống chiến tranh tâm lý của địch; giải quyết ổn định dần tình hình trong quần chúng người Hoa, nhấnt là ở trường học, xây dựng lực lượng cốt cán và lãnh đạo chặt chẽ Hội Hoa Liên; đẩy mạnh công tác tôn giáo vận; tăng cường quản lý, bồi dưỡng, xây dựng và nâng cao trình độ công tác trong đội ngũ cán bộ Mặt trân; đấu tranh chống những hiện tượng tiêu cực trong xã hội; tham ô, lãng phí, vi phạm pháp luật…; tổ chức tốt đời sống nhân dân để chiến đấu và sản xuất lâu dài; tham gia các hoạt động đoàn kết quốc tế, đoàn kết ba nước Đông Dươgn và ngoại giao nhân dân; đẩy mạnh cuộc vận động phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh phong trào lao động sản xuất, thực hành tiết kiệm; xây dựng phong cách người Hà Nội, xây dựng các đoàn thể; tổ chức tăng cường chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam, thực hiện tốt phong trào kết nghĩa Hà Nội - Huế - Sài Gòn; tham gia cuộc vận động xây dựng con người mới của Hà Nội.

Trước nhiệm vụ cách mạng nặng nề của Thủ đô và Mặt trận có vai trò quan trọng góp phần hoàn thành nhiệm vụ đó, Thành uỷ, các cấp uỷ, lãnh đạo các ngành ở thời kỳ này đx có sự quan tâm hơn và tăng cường lãnh đạo công tác Mặt trận. Ban Mặt trận đã hoàn thành nhiệm vụ là cơ quan tham mưu cho Thành ủy, đề xuất nhiều chủ trương, ý kiến sát đúng giúp Thành uỷ lãnh đạo công tác Mặt trận và phong trào quần chúng có hiệu quả.

Tuy bận nhiều việc tổ chức chỉ đạo chiến tranh, xây dựng và quản lý Thành phố nhưng Thành uỷ cũng vẫn thường xuyên lãnh đạo củng cố tổ chức Mặt trận Tổ quốc Thành phố, các Đại hội của Mặt trận được tổ chức chu đáo, đúng thời gian và thành công rực rỡ : Đại hội V (5-1971) và Đại hội VII (5-1974). Tổ chức Mặt trận các cấp từ thanh phố đến khu phố, huyện được lãnh đạo củng cố thường xuyên. Cùng với bước phát triển của cách mạng, vị trí cảu cơ sở càng quan trọng do vậy cần tăng cường công tác Mặt trận và dân vận ở cơ sở. Chính vì vậy, ngày 13-3-1972 Thường vụ Thành uỷ đề ra kế hoạch kiện toàn bộ máy làm công tác Mặt trận và quyết định làm thí điểm tổ chức Mặt trận ở mỗi khu phố. Về sau cách làm này được phổ biến ở nội thành và phát triên ra cả ngoại thành.

Từ thời bình chuyển sang thời chiến, Thành uỷ đã kịp thời chỉ đạo công tác Mặt trận hướng vào việc tăng cường Mặt trận, làm cho họ nhạn rõ những chủ trương và nội dung của Thành phố tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện có chiến tranh và quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược ngay trên bầu trời Thủ đô, đồng thời tích cực  chi viện cho tiền tuyến miền Nam anh hùng. Tư tưởng của các tầng lớp trong Mặt trận thời kỳ này có nhiều diễn biến phức tạp, nhưng Mặt trận đã tổ chức giáo dục liên tục và qua thực tiễn đấu tranh dần dần cũng đi vào ổn định và ngày càng tỏ rõ sự  nhất trí cao đối với đường lối chống Mỹ, cứu nước, đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội trong chiến tranh và đường lối đối ngoại của Đảng và Chính phủ cũng như những nhiệm vụ của Thành phố. Sự nhất  trí đó nói rõ lòng tin tưởng vững chắc của nhân dân Thủ đô với sự lãnh đạo của Đảng và Hồ Chủ tịch, đồng thời cũng chứng tỏ sự  đoàn kết thống nhất thành một khối và trình độ giác ngộ cách mạng của đồng bào Thủ đô ngày càng được nâng cao.

Muốn vừa sản xuất tốt vừa chiến đấu tốt phải thực hiện sơ tán phòng không, đay là một công tác không ít khó khăn. Mặt trận đã tham gia tích cực công tác này. Chỉ tính đến thang 12-1967, 30 vạn người gồm 17 vạn 6 ngàn trẻ em và 12 vạn 4 ngàn người lớn đã được vận động đi sơ tán xa Thành phố. Đợt sơ tán phòng không cuối năm 1972 được thực hiện nhanh và triệt để, chỉ trong thời gian ngắn 30 vạn dân đã dời khỏi nội thành, lúc chiến tranh ác liệt 55 vạn nhân dân tạm xa phố phường thân yêu. Nhờ sơ tán phòng không tốt mà nhiệm vụ sản xuất và chiến đấu của Thành phố giành nhiều thắng lợi lớn và hạn chế đến mức thấp nhát thiệt hại về người và của trong chiến tranh.

Cùng với chiến tranh ngày càng tăng, an ninh trật tự Thành phố cũng xuất hiện nhiều vấn đề phức tạp như trộm cắp, thanh thiếu niên càn quấy và phạm pháp nhiều… Mặt trận đã hỗ trợ các cơ quan chức năng cua Thành phố nhằm đẩy lùi các tiêu cực trong trật tự an ninh và đã đạt được nhiều kết quả tốt. Trong các năm 1966-1967 nạn trộm cắp vặt ở Thành phố giảm 50-60%, các đối tượng càn quấy được đưa về gia đình , cơ quan, đường phố quản lý giáo dục có kết quả tốt, có 30% chuyển biến tốt.

Mặt trận tham gia tích cực vào tổ chức động viên chến đấu và khắc phục hậu quả chiến tranh; tổ chức thi đua vì miền nam ruột thịt, tích cực chi viện cho tiền tuyến anh hùng. Đặc biêt  Mặt trận liên tục hơn mười năm tổ chức phong trào kết nghĩa Hà Nội - Huế - Sài Gòn đưa phong trào sản xuất và chiến đấu phát triển cao và thường xuyên. Mặt trận chũng là tổ chức hoạt động tích cực thực hiện chính sách hậu phương quân đội.

Mặt trận không chỉ thực hiện tốt việc đoàn kết chặt chẽ các tầng lớp nhân dân Thủ đô hoàn thành nhiệm vụ sản xuất và chiến đấu mà còn thực hiện xuất sắc đường lối đoàn kết quốc tế, đoàn kết ba nước Đông Dương và ngoại giao nhân dân của Đảng và Chính phủ.

Mặt trận ngày càng làm tốt hơn công tác giáo dục vận động nhân dân tham gia xây dựng và củng cố chính quyền, phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Trong phong trào xây dựng phong cách người Hà Nội, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, Mặt trận đã tích cực vận động nhân dân học tập những gương “người tốt, việc tốt”, tích cực quan tâm công tác giáo dục chăm sóc thiếu niên, nhi đồng, vận động xây dựng “gia đình 5 tốt, khối phố và thôn xóm văn minh”, phong trào trật tự  vệ sinh và bổ túc văn hoá của Thành phố. Mặt trận đã tổ chức động viên, phối hợp với nhiều tổ chức đoàn thể, nhiều giới thực hiện tốt phong trào ở những nơi đó như phong trào ở những nơi đó như trong giơi phụ lão, thanh niên, phụ nữ…

Tuy vậy, hoạt động của Mặt trận trong công tác tuyên truyền nặng về phổ biến chung, chưa sâu rộng ở cơ sở. Việc giáo dục tư tưởng xã hội chủ nghĩa cho các tầng lớp nhân dân Thành phố cũng như rèn luyện đạo đức phẩm chất cho người mới xã hội chủ nghĩa, Mặt trận đẩy mạnh chưa đúng mức. Nội dugn và lề lối làm việc giữa Mặt trận và Chính quyền chưa được xây dựng rõ ràng.
Mặt trận Tổ quốc thành phố đã tích cực vận động các giới đồng bào thực hiện tốt các nhiệm vụ của Thành phố thời kỳ 1965-1975.

Mặt trận tham gia thực hiện công tác tư sản vận thời kỳ 1965-1975 ở Hà Nội, giúp đỡ những nhà tư sản tiếp tục cải tạo rèn luyện mình thành người lao động chân chính, cùng toàn dân Thủ đô đóng góp sức lực, trí tuệ của mình vào sự nghiệp xây dựng Thủ đô trong điều kiện mới và tham gia các hoạt động cho sự  nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc cũng như những hoạt động xã hội và quốc tế diễn ra ở Thủ đô. Mặt khác Mặt trận cũng có trách nhiệm góp phần làm cho các chính sách chế độ đối với các nhà tư sản được thực hiện đúng đắn, góp phần  xây dựng khối đoàn kết toàn dân Thủ đô ngày càng vững chắc.

Mặt trận Tổ quốc thành phố đã giúp đỡ thường xuyên Hội Liên hiệp công thương thành phố và thông qua  Hội nắm vững tình hình các nhà tư sản trong quá trình lao động công tác ở các cơ sở, đồng thời thưòng xuyên giáo dục, tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và Mặt trận cho các Nhà tư sản. Do vậy ngay từ những ngày đầy giặc Mỹ mở rộng chiến tranh ra miền Bắc và khi đế quốc Mỹ trực tiếp đánh phá Hà Nội (6-1966), đại bộ phận các nhà tư sản sớm nắm vững và nhất trí đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc trong điều kiện cả nước có chiến tranh, nhất trí với chủ trương của thành phố sơ tán phòng không, tiếp tục sản xuất và kiên quyết đánh thắng đế quốc Mỹ ngay trên đất Thăng Long. Sự nhất trí  đó thể hiện trong hành động lao động và công tác kiên trì bèn bỉ suốt cả thời kỳ này, nhiều nhà tư sản giữ vị trí trong ban lãnh đạo xí nghiệp, cửa hàng đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, nhiều người trở thành lao động tiên tiến, nhiều người có những đóng góp trong phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật. Vào thời kỳ này Hội Liên hiệp công thương vẫn tiếp tục duy trì phong trào: giành danh hiệu cá nhân tích cực và tổ chức công thương tích cực mà Hội phát động từ giữa kế hoạch 5 năm lần thứ nhất. Vào thời kỳ chống Mỹ, trong giới tư sản lại có phong trào thi đua “ năm tiêu chuẩn phấn đấu của người công thương yêu nước chống Mỹ”. Đến năm 1967, thành phố nêu ra danh hiệu Công thương tiên tiến, Hội tiếp tục phong trào trên  với tên gọi : thi đua giành danh hiệu công thương tiên tiến, tổ chức công thương tiên tiến và phấn đấu giành lá cờ đầu – phong trào này nhằm vận động  tư sản đi vào  cải tạo lao động, tư tưởng, nếp sống sinh hoạt và xây dựng con người mới. Phong trào được tổ chức  khá chặt chẽ, hàng quý có hướng dẫn nội dung thi đua, hàng năm có tổng kết khen thưởng. Phong trào mang lại kết quả rất tốt, hàng năm cso từ 50-60% số nhà tư sản được xếp việc đạt danh hiệu công thương tiên tiến. Hội Liên hiệp công thương vận động thi hành thông tư của Mặt trận (1970) về sử dụng cải tạo tư sản trong lao động sản xuất, trọng tâm là sử dụng tốt tư sản có kỹ thuật. Hội đã phát động phong trào trao đổi phổ biến kinh nghiệm kỹ thuật nghiệp vụ, viết tài liệu khoa học kỹ thuật, nghiên cứu mặt hàng, phong trào rất mới với các nhà tư sản và đã mang lại kết quả tốt. Mặt trận vận dụng phong trào gửi tiền tiết kiệm của thành phố cho giơi công thương thành phong trào thi đua gửi tiền tiết kiệm dài hạn chống Mỹ; vận động trong giới tư sản khuyến khích Việt kiều chuyển ngoại tệ và vàng về nước. Chỉ tính riêng năm 1972 các nhà tư sản gửi tiền tiết kiệm dài hạn đạt 100.000 đồng và trên 30 hộ nhận được ngoại tệ.

Tuy vậy khi cách mạng có những khó khăn thì nhiều tư sản bi quan, dao động, tư tưởng diễn biến khá phức tạp, cho rằng đấu tranh thống nhất nước nhà còn dài không biết đến bao giờ, khó mà thực hiện được chính sách hoà hợp dân tộc, và nếu có quan hệ hai miền, đời sống miền Bắc khó mà tranh thủ được miền Nam… Nắm vững những diễn biến tư tưởng của giới tư sản như vậy, Mặt trận đã góp phần cùng các cơ quan thành phố từng bước có phương pháp sát hợp giúp giới tư sản có nhận thức đúng đắn và lòng tin vào cách mạng.

Trong quá trình cải tạo, rèn luyện thành ngươì lao động, giới tư sản Thủ đô cũng rất mong mỏi Đảng và Nhà nước có chính sách bổ sung đối với họ, như thay đổi thành phần, được hưởng các chế độ như cán bộ công nhân viên chức. Từ năm 1971 trong giới tư sản nổi lên hai vấn đề lớn là : sắp hết tức (tư sản lớn, vừa) và vấn đè thành phần (tư sản nhỏ). Giới tư sản hy vọng được nhận tiền tức cho đến lúc chết và sẽ được thay đổi thành phần. Quyết định số 71/CP ngày 13-4-1972 quy định thanh toán tiền tức ngang vốn (chuộc lại), cộng với lúc đó thành phố thực hiện chính sách quản lý tiền mặt đối với những hộ có từ 50 đồng trỏ lên và chủ trương không thay đổi thành phần đã làm giới tư sản bị choáng váng. Mặt trận đã kịp thời tổ chức toạ đàm, giải thích dâầ, tư tưởng của giới tư sản ổn định trở lại và chuẩn bị cho cuộc sống khi hết nhận tiền tức.

Năm 1971, Ban Mặt trận thành phố phát hiện một số tồn tại trong công tác cải toạ tiếp tục với giai cấp tư sản dân tộc và việc họ đã đề nghị thành phố xem xét lại thành phần của họ trong việc thi hành Chỉ thị 213 của Ban Bí thư. Về vấn đề này, đến cuối năm1973 thành phố đã giải quyết cho 214 hộ trong số 267 hộ công thương được xếp việc khi cải tạo tư sản đã xác định lại cho họ không còn là tư sản nữa.

Thời kỳ 1965-1975, trí thức Thủ đô đã có sự đóng góp xứng đáng vào thực hiện hai nhiệm vụ chính trị của thành phố là xây dựng chủ nghĩa xã hội và đánh thắng giặc Mỹ góp phần đưa sự nghiệp giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc đến thắng lợi vẻ vang. Trong đóng góp của trí thức Thủ đô có vai trò động viên, giáo dục của Mặt trận. Trong quá trình tham gia giáo dục tổ chức động viên đội ngũ trí thức thực hiện nhiệm vụ cách mạng, Mặt trận đã nghiên cứu nắm vững vị trí, vai trò và đặc điểm của đội ngũ trí thức Thủ đô ở thời kỳ này. Trong sự nghiệp cách mạng của Thủ đô, đội ngũ trí thức ngày càng đóng vai trò quan trọng, có ý nghĩa then chốt tạo ra những bước đi có tính chất bước ngoặt của thành phố. Vào thời kỳ này đội ngũ trí thức Thủ đô phát triển nhanh chóng, đến đầu năm 1971 số lượng trí thức Thủ đô đã tăng gấp ba lần trước khi giặc Mỹ đánh phá Hà Nội. Khi Hà Nội được giải phóng, đội ngũ trí thức Thủ đô chỉ có vài trăm người được đào tạo ở nhà trường cũ, chủ yếu thuộc ngành y khoa và giáo dục. Đầu những năm 70 giới trí thức Thủ đô đã có gần một vạn người tốt nghiệp đại học và trên đại học, số trí thức cũ chỉ chiếm 3-4% còn trên 90% là anh em trí thức mới, trong đó tuyệt đại bộ phận là con em nhân dân lao động, 30-40% đã ra trường trên dưới 10 năm, trên 40% đang tuổi thanh niên, số là đảng viên chiếm 35%, số nữ trí thức trước đây có vài người, lúc này chiếm 15%. Trí thức Thủ đô lúc này có bước trưởng thành lớn về lập trường cách mạng, trình độ chính trị và được thử thách tôi luyện nhiều trong thực tiễn cách mạng, gần gũi quần chúng lao động.


Tuy vậy đội ngũ trí thức thru đô phát triển nhanh về số lượng, trong chuyên môn phần đông họ biết chưa sâu, làm chưa thạo, hiểu thực tiễn chưa nhiều; trình độ khoa học cơ bản còn thấp; kinh nghiệm nghiên cứu khoa học còn ít, số có trình độ cao có thể hướng dẫn nghiên cứu khoa học không nhiều. Bản lĩnh chính trị và kinh nghiệm cuộc sống cần được bồi dưỡng nhiều hơn nữa.

Mặt trận đã triển khai nhiều hình thức như cùng các chính đảng, đoàn thể, tổ chức tuyên truyền, giáo dục, quán triệt đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, chủ trương và nhiệm vụ của Thành phố trong từng thời gian tới trí thức Thủ đô; xây dựng người trí thức mới xã hội chủ nghĩa; tổ chức động viên trí thức đóng góp trí tuệ và sức lực vào sự nghiệp cách mạng của Thủ đô. Giặc Mỹ ném bom phá hoại Thủ đô, Mặt trận cùng công đoàn và các ngành tổ chức Hội nghị trí thức Thủ đô quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, đay là sinh hoạt chính trị lớn kéo dài suốt thời kỳ này đã tập hợp đông đảo trí thức Thủ đô và động viên họ hăng hái nghiên cứu, công tác với ý chí quyết chiến quyết thắng giặc Mỹ xâm lược. Đối với trí thức lâu năm, Mặt trận đã góp phần vào việc chú ý cải tạo, sử dụng, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác của họ.

Tuy vậy thời kỳ này trong công tác trí thức vận của thành phố vẫn tồn tại nhiều khuyết điểm. Việc giáo dục chính trị, rèn luyện tư tưởng cho trí thức chưa thật sâu, chưa sát với yêu cầu nhiệm vụ và từng đối tượng, chưa thật gần với thực tiễn đấu tranh cách mạng trong sản xuất, chiến đấu, phát triển khoa học kỹ thuật, văn học nghệ thuật của thành phố. Tác dụng đấu tranh của chi bộ Đảng và các tổ chức quần chúng đối với trí thức còn hạn chế, còn dè dặt, nể nang nhiều, ngược lại có nhiều trường hợp lại hẹp hòi, giản đơn, thô bạo. Giáo dục động cơ vào Đảng cho trí thức làm chưa tốt. Chưa tạo cho trí thức nhiều thời gian làm chuyên môn, nhìeu người không được bố trí đúng chuyên môn. Nhiều cấp lãnh đạo chưa sát trí thức, chưa mạnh dạn phát huy khả năng  của anh chị em nhất là đối với nữ trí thức và trí thức trẻ. Một số cán bộ lãnh đạo thường có thành kiến với trí thức có khuyết điểm và nhược điểm về tác phong, cá tính hoặc về lịch sử gia đình xuất thân. Các đoàn thể khác như Công đoàn, Đoàn thanh niên chưa chú trọng tổng kết công tác để cải tiến phương pháp hoạt động đối với trí thức. Nhìn chung các ngành chưa chú trọng đẩy mạnh công tác vận động trí thức.

Thời kỳ 1965-1975, công tác tôn giáo vận của Mặt trận đã giành được những thắng lợi ngày càng lớn hào nhiẹp cùng tháng lợi chung của sự nghiệp cách mạng ỏ Thủ đô ngày càng phát triển. Trong công tác tôn giáo vận, Mặt trận các cấp đã góp phần xứng đáng vào thành tích đó. Mặt trận đã tuyên truyền giáo dục cho đồng bào giáo dân đường lối chống Mỹ, cứu nước như nhiệm vụ xây dựng và bào về Thủ đô, trách nhiệm và nghĩa vụ của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn. Cùng với bước tiến trong sản xuất và chiến đấu của Thủ đô, trình độ giác ngộ của đồng bào công giáo ngày càng tăng; phong trào của quần chúng liên tục chuyển biến tốt, vai trò quần chúng đấu tranh cải tạo Giáo hộ được phát huy rộng khắp và ngày càng phát triển. Giáo dân ngoại thành ra sức khắc phục khó khăn, tích cực sản xuất, chấp hành  chính sách. Số giáo dân trước đây khó vận động, thời kỳ này cũng đã xin vào hợp tác xã, đưa tỷ lệ từ 95% lên gần 100% số nông hộ giáo dân vào hợp tác xã. Nhiều cơ sơ đạt sản lượng 5 tấn thóc/ha, và bảo đảm bán đủ lương thực, thực phẩm cho Nhà nước. Ở nội thành hầu hết giáo dân đều lao động ở các xí nghiệp và các hợp tác xã thủ công. Chỉ tính riêng thời gian đế quốc Mỹ bắn phá miền Bắc (1965-1968) thanh niên công giáo Hà Nội đã có 506 người vào bộ đội, có 46 gia đình có từ hai con trở lên đang tại ngũ. 100% con em giáo dân được đi học, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo được tăng cường. Phong trào thi đua yêu nước được củng cố và liên tục phát triển từ thành phố đến xứ họ, đến đầu năm 1969 đã có 1.300 hộ giáo dân đạt danh hiệu Gia đình công giáo tích cực chống Mỹ, cứu nước. Thời kỳ này điểm nổi bật trong công tác vận động đồng bào công giáo là động viên  tổ chức được các tầng lớp giáo dân đều tham gia chống Mỹ, cứu nước và ngày càng gắn bó với chế độ xã hội chủ nghĩa, tư tưởng được nâng lên. Khí thế cách mạng của quần chúng được phát huy mạnh ở nhiều nơi, trình độ uy tín của đảng viên, cốt cán trong giáo dân được nâng lên có tác dụng tốt.

Đối với Phật giáo, Tin lành, Cao đài, Mặt trận đã chú trọng tham gia công tác giáo dục tư tưởng, thi hành chính sách, quan tâm đời sống các đầu đạo và ngày càng đi sát ba tôn giáo này. Các đầu đạo và tín đồ đã làm tốt nhiệm vụ yêu nước, chấp hành chính sách, lực lượng tiến bộ ngày càng phát triển đã phát huy tích cực trong đấu tranh với những hiện tượng tiêu cực.

Trong công tác tôn giáo vận thời kỳ này cũng còn một số mặt yếu và khuyết điểm: Chính quyền cũng như Mặt trậ còn nhiều thiếu kiên quyết đấu tranh để chấm dứt những vi phạm hành chính đối với Phật giáo, để các hiện tượng sử dụng chùa, đất đai nội tự không đúng chính sách của Nhà nước kéo dài. Chính sách tôn giáo chưa được các cấp, các ngành quán triệt đầy đủ. Với công giáo, công tác bồi dưỡng cốt cán chưa được làm thường xuyên. Một số nơi chưa có đảng viên.

Thời kỳ 1965-1975, công tác Hoa vận của thành phố có nhiều khó khó khăn những cũng là thời kỳ giành được thắng lợi và cho nhiều kinh nghiệm quý. Dưới sự lãnh đạo của Thành uỷ, Mặt trận đã tham gia triển khai đợt tuyên truyền rộng rãi giải thích trong bà con người Hoa, phát động quần chúng đấu tranh với bọn cơ hội. Đợt học tập này được tiến hành trong hai năm 1967 và 1968, cho mọi tầng lớp người Hoa từ cán bộ đảng viên, công nhân viên chức, xã viên thru công, bà con đường phố, cả tầng lớp tiểu thương và học sinh lớn tuổi. Ban lãnh đạo các cơ sở  hợp tác xã được củng cố, tạo mối liên hệ mật thiết giữa quần chúng người Hoa với Mặt trận khu phố, huyện và thành phố, đưa tư tưởng quần chúng người Hoa đi và thời kỳ ổn định, trình độ nhận thức được nâng cao hơn.

Từ 1970 đến 30-4-1975 là thời gian tương đối ổn định của người Hoa ở Hà Nội. Cơ cấu xã hội người Hoa thời gian này đã thay đổi tham gia sản xuất ở các cơ quan xí nghiệp Nhà nước và các hợp tác xã thủ công, 70% gia đình người Hoa sinh sống dựa vào đồng lương của Nhà nước và tập thể, mức sống như người Việt ở Hà Nội, còn 30% gia đình người Hoa khác  thu nhập dựa vào kinh doanh buôn bán đời sống cao.

Trong tình hình đó, Thành uỷ chủ trương phát huy những thắng lợi thời gian trước, đẩy mạnh công tác Hoa vận nhằm nâng cao nhận thức của người Hoa, tiếp tục giữ vững ổn định, động viên họ tham gia thực hiện những nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ thành phố, thiết thực góp phâầ cho sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Mặt trận góp phần xây dựng lòng tin, sự hiểu biết và tiếp nhận chính sách Hoa vận của Đảng cho bà con người Hoa qua thực tiễn chính sách của Việt Nam, của chính quyền Thành phố đối với người Hoa không khác gì đối với người Việt Nam khác;  qua sự gắn bó giữa toàn dân Việt Nam và người Hoa; qua cải cách giáo dục được thực hiện từ năm 1970, con em người Hoa không nhất thiết phải vào trường Hoa mà có thể học sinh người Hoa cùng chung một trường với học sinh người Việt.

Năm 1971, Thành phố đã phổ biến sâu rộng Nghị quyết về hoa vận của Thường vụ Thành uỷ giúp cho các cấp ngành có nhận nhận thức đúng hơn về công tác Hoa vận. Mặt trận góp phần lãnh đạo các cơ sở tập trung có nhiều người Hoa như Hội Hoa Liên, trường học, hợp tác xã thủ công… ngày càng chủ động và vững chắc. Mặt trận đã đi sâu  và tham gia làm tốt công tác giáo dục động viên người Hoa nâng cao tinh thần tự nguyện hăng hái gánh vác nghĩa vụ chung và tạo chuyển biến mạnh mẽ tình hình tư tưởng, chính trị trong bà con người Hoa ở Thủ đô.

Từ 1973 đến 4-1975 công tác Hoa vận được quần chúng chú ý. Trong thời kỳ này tư tưởng của người Hoa tiếp tục chuyển biến tốt, đời sống được ổn định, có nhiều cố gắng trong lao động sản xuất, chấp hành chính sách, có nhiều đóng góp  với phong trào chung. Nhìn chung tình hình người Hoa ỏ cuối thời kỳ này tương đối ổn định.

Thời kỳ này công tác Mặt trận của thành phố đã giành được nhiều thắng lợi lớn, so với các thời kỳ trước đó là bước phát triển khá toàn diện về công tác Mặt trận. Song quá trình  đó trong lãnh đạo công tác Mặt trận và hoạt động của Mặt trận vẫn còn để lại những thiếu sót, tồn tại cần khắc phục. Thành uỷ thường xuyên quan tâm lãnh đạo công tác Mặt trận song chưa đầy đủ và chưa thật sâu sát. Đặc biệt nhiều ban lãnh đạo các cấp, các ngành chưa thật sự lãnh đạo và thực hiện  công tác Mặt trận, do vậy việc phân công cán bộ, nắm  tình hình, nghe báo cá, chỉ đạo và phối hợp kịp thời trong công tác Mặt trận còn nhiều hạn chế, có năm Huyện uỷ Thanh trì, Đảng uỷ Hoàn Kiếm không một lần kiểm điển công tác Mặt trận, năm 1967 Đảng uỷ Hoàn Kiếm chỉ bố trí hai đồng chí làm công tác Mặt trận.

Bộ máy chuyên trách công tác Mặt trân chưa được kiện toàn đúng mức, thiếu về số lượng, chất lượng yếu, trình độ nghiên cứu đề xuất yếu,, một số tuổi cao sức yếu, nhiều Ban liên lạc Mặt trận xã chỉ có tác dụng trong giới phụ lão. Cán bộ thiếu chủ động trong công tác, còn ỷ lại trông chờ cấp trên. Cán bộ chủ chốt chưa sát và ít đi cơ sở điều tra nghiên cứu, ít sát phong trào.

Từ năm 1973 đến 1975, phong trào quần chúng ở Thủ đô thực hiện các nhiệm vụ của cách mạng xã hội chủ nghĩa là nét chủ đạo, nhưng  sự lãnh đạo của Thành uỷ thì chưa thay đổi; Ban Mặt trận nặng về sự vụ; hệ thống Mặt trận yếu so với yêu cầu của phong trào, đối tượng Mặt trận lại không do ngành Mặt trận quản lý, công tác Mặt trận nhiều nơi là công tác phụ đạo. Do vậy Mặt trận chưa phát huy đầy đủ vai trò của mình trong việc đẩy mạnh thực hiện cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa trên các lĩnh vực quan hệ sản xuất, khoa học kỹ thuật và thể thao văn hoá; Mặt trận tham gia phong trào lao động sản xuất chưa rõ.

Hoạt động của Mặt trận trong công tác tuyên truyền nặng về phổ biến chung, chưa sâu rộng ở cơ sở. Việc giáo dục tư tưởng xã hội chủ nghĩa cho các tầng lớp nhân dân Thành phố cũng như rèn luyện đạo đức phẩm chất con người mới xã hội chủ nghĩa chưa được Mặt trận đẩy mạnh đúng mức. Nội dung và lề lối phối hợp làm việc giữa Mặt trận và chính quyền chưa được xây dựng rõ ràng.


Tin liên quan
Liên kết website

Cơ quan Đảng, Nhà nước

Các trường Đại học, Cao đẳng

Cơ quan Báo chí

Các website khác

Số lượt truy cập
Đang online: 284
Hôm qua: 39,051
Tất cả: 26,815,397